(Sóng trẻ) - Mỗi năm, Vườn quốc gia Vũ Quang tiếp nhận hàng trăm cá thể động vật bị thương được những “bác sĩ” chăm sóc và giúp chúng tái sinh để về lại với tự nhiên.
Một buổi sáng đầu đông, sương còn bảng lảng những tán cây, con đường dẫn vào Vườn Quốc gia Vũ Quang còn ướt sẫm hơi ẩm của rừng sau cơn mưa đêm. Một chiếc bán tải phủ đầy bụi đường vừa dừng trước khu vực cổng chính, phía sau thùng xe là chiếc chuồng nhựa cũ, bên trong, một cá thể tê tê bị thương đang cuộn mình.
Chuồng được mở ra, tê tê chậm rãi cựa mình, theo phản xạ cuộn tròn thân thể. Lớp vảy xếp chồng còn nguyên vẹn, chỉ có chân phải bị sưng tấy, di chuyển khó khăn. Cán bộ kiểm lâm nhanh chóng đưa cá thể này vào khu cách ly tại Trạm cứu hộ động vật để kiểm tra sơ bộ. Đó là một trong hàng trăm ca cứu hộ diễn ra mỗi năm tại Trạm cứu hộ động vật tại Vườn Quốc gia Vũ Quang, nơi được mệnh danh là “bệnh viện” đặc biệt giữa đại ngàn Trường Sơn.


“Bệnh viện” của động vật ra đời ngay sau khi Vườn Quốc gia Vũ Quang được thành lập, có diện tích khoảng 70m2, đặt cạnh tòa nhà ban quản lý của Vườn Quốc gia Vũ Quang, được ví như “tuyến đầu” trong công tác bảo tồn. Đây là nơi tiếp nhận các cá thể động vật hoang dã bị thương, suy kiệt, được cứu từ các vụ săn bắt, buôn bán trái phép hoặc được người dân tự nguyện giao nộp.
Tại đây, động vật được kiểm tra, sơ cứu, điều trị và chăm sóc phục hồi sức khỏe trước khi được tái thả về môi trường tự nhiên. Đầu năm 2025, trạm được tu sửa và mở rộng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc các cá thể động vật hoang dã. Ông Thái Cảnh Toàn, Phó giám đốc Vườn Quốc gia Vũ Quang nhận định: “Trạm cứu hộ đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng hệ sinh thái và đa dạng sinh học của Vũ Quang”.
Trong bối cảnh số lượng động vật hoang dã cần cứu hộ ngày càng nhiều, trong khi chưa có trung tâm chuyên trách tiếp nhận, chữa trị và huấn luận thú rừng, nhiều cán bộ được giao thêm nhiệm vụ đặc biệt: trở thành “bác sĩ” tại trạm, trực tiếp tiếp nhận, chăm sóc và cứu chữa các cá thể bị thương. Trong đó có chị Trần Thị Hồng, sinh năm 1989, hiện là cán bộ Phòng Khoa học Kỹ thuật và Hợp tác Quốc tế, Vườn Quốc gia Vũ Quang. Suốt nhiều năm qua, bằng sự bền bỉ và tận tâm, chị Hồng đã cùng đồng đội chữa trị, hồi sinh và tái thả về rừng tự nhiên hàng nghìn cá thể động vật hoang dã.
Công việc tại trạm cứu hộ không đơn thuần là cho ăn hay dọn dẹp chuồng trại. Theo chị Hồng, mỗi cá thể động vật hoang dã khi được đưa về đều là một “bệnh án” đặc biệt, đòi hỏi sự quan sát kỹ lưỡng và kiên nhẫn ngay từ những giờ đầu tiên. Trước khi tiến hành bất kỳ can thiệp nào, động vật đều phải được cách ly để theo dõi tình trạng sức khỏe tổng quát và phản ứng tâm lý. Những biểu hiện rất nhỏ như cách di chuyển, ánh mắt, nhịp thở hay việc con vật có chịu ăn hay không đều trở thành căn cứ để đánh giá mức độ tổn thương và khả năng hồi phục.
Không có bác sĩ thú y chuyên trách thường trực tại trạm, chị Hồng và các đồng nghiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tích lũy trong nhiều năm làm nghề. Với những trường hợp phức tạp, chị phải liên hệ từ xa với các chuyên gia, gửi hình ảnh, mô tả chi tiết triệu chứng để xin tư vấn trước khi tiến hành điều trị. “Mỗi loài một thể trạng, một tập tính khác nhau, không thể xử lý theo cảm tính”, chị Hồng chia sẻ. Từ việc lựa chọn loại thuốc, liều lượng đến cách cho uống hay tiêm đều được cân nhắc cẩn trọng, bởi chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể khiến con vật rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn.
Trong hành trình hồi sinh thú rừng, điều khó khăn nhất không nằm ở những vết thương hữu hình mà còn ở tổn thương tinh thần mà động vật gánh chịu sau thời gian bị săn bắt, giam cầm hoặc buôn bán trái phép. Nhiều cá thể khi mới về trạm rơi vào trạng thái hoảng loạn kéo dài, luôn tìm cách né tránh con người, không chịu ăn uống, tự làm tổn thương chính mình vì căng thẳng. Chị Hồng bộc bạch, nếu không xử lý tốt giai đoạn này, khả năng phục hồi của động vật sẽ giảm đi rất nhiều.
Các cán bộ tại trạm cứu hộ còn đảm nhiệm quá trình huấn luyện khả năng sinh tồn cho từng cá thể. Với những con vật có nguồn gốc từ tự nhiên, còn giữ lại được bản năng hoang dã, khi đã phục hồi hoàn toàn, trạm sẽ lựa chọn khu vực phù hợp với vùng phân bố loài để tái thả.
Với những cá thể đã phục hồi hoàn toàn, tái thả về tự nhiên luôn là khoảnh khắc được mong chờ nhất tại trạm, là thời điểm những nỗ lực thầm lặng của cán bộ như chị Hồng được đền đáp. Trước ngày tái thả, từng cá thể đều trải qua quá trình theo dõi nghiêm ngặt: từ khả năng vận động, phản xạ tự nhiên, chế độ ăn uống, tình trạng sức khỏe. Chỉ khi chấn thương đã lành hẳn, thể trạng ổn định và bản năng hoang dã được khơi lại, trạm mới yên tâm quyết định đưa chúng trở về rừng.

Các đợt tái thả động vật hoang dã thường được tổ chức tại những khu vực rừng có sinh cảnh phù hợp với từng loài, bảo đảm điều kiện sinh tồn sau khi trở về tự nhiên. Với những người làm công tác cứu hộ, khoảnh khắc ấy luôn mang nhiều cảm xúc đan xen. Vui vì thêm một sinh mạng được trả lại cho tự nhiên, nhưng cũng thấp thỏm lo âu cho hành trình phía trước của con vật giữa đại ngàn khắc nghiệt.
Tuy nhiên, không phải cá thể động vật hoang dã nào được đưa về trạm cũng có cơ hội trở lại với rừng xanh. Một số cá thể, vì bị nuôi nhốt quá lâu hoặc tổn thương nặng nề về thể chất và tập tính, buộc phải sống cả đời trong chuồng trại.
Men theo dãy chuồng nuôi phía sau trạm cứu hộ, chị Hồng dừng lại trước một cá thể vượn đen má trắng đang thoăn thoắt chuyền cành. Ít ai nghĩ con vật này đã không còn khả năng trở về rừng. “Con vượn này được người dân giao nộp hơn một năm nay. Nhưng với loài vượn, nếu đã bị nuôi nhốt quá lâu thì sẽ khó tái thả. Nó quen ăn đồ ăn do con người cho, dần mất khả năng tự kiếm ăn trong tự nhiên. Nhìn nó nhảy nhót vậy thôi chứ thương lắm!”, chị tâm sự. Điều này đồng nghĩa với việc công tác chăm sóc, nuôi dưỡng lâu dài tại trạm đặt ra nhiều áp lực đối với đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ cứu hộ.
Công việc không dừng lại ở giờ hành chính, những ca cứu hộ có thể đến bất cứ lúc nào. Có ngày, chị Hồng bắt đầu công việc từ sáng sớm đến đêm muộn, theo dõi và chăm sóc kĩ lưỡng từng cá thể. “Nhiều khi còn phải kiểm tra đột xuất, vì chỉ cần động vật có biểu hiện bất thường là mình không yên tâm”, chị nói.
Nhịp làm việc kéo dài và liên tục khiến cán bộ trạm gần như ít thời gian để nghỉ ngơi. Vất vả về thời gian là một phần, phần nữa là đến từ những rủi ro luôn rình rập khi phải tiếp xúc với những cá thể động vật hoang dã đang chịu tổn thương về thể chất và tâm lý. Từ khỉ, vượn đến trăn, rắn, mỗi loài đều có phản xạ tự vệ rất mạnh. Một lần, chị Hồng bị cá thể vượn đực cào rách tay khi đưa thức ăn. “Lúc đó tôi còn ít kinh nghiệm, không biết rằng vượn đực sống đơn lẻ thường rất dữ”. Từ sau lần ấy, chị rút ra nhiều bài học để bảo vệ bản thân và đồng nghiệp: không tiếp xúc trực tiếp, giữ khoảng cách an toàn, hạn chế tối đa tác động khiến động vật bị kích thích.
Áp lực càng trở nên nặng nề khi công tác cứu hộ vẫn phải vận hành trong điều kiện thiếu thốn trang thiết bị y tế và thuốc đặc trị chuyên dụng. Trạm chưa có bộ chỉ số đánh giá sức khỏe chuyên sâu cho từng loài, nên việc xác định tình trạng bệnh phần lớn dựa vào kinh nghiệm và quan sát thực tế của cán bộ trạm. Với những ca phức tạp như đau bụng, tiêu chảy hay nghi nhiễm trùng, cán bộ trạm buộc phải hỏi ý kiến chuyên gia từ xa rồi tự theo dõi và điều trị.
Cơ sở vật chất tại trạm dù đã được cải thiện so với trước nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ khi động vật được đưa về dồn dập. Chuồng trại còn hẹp, đơn sơ, chưa kiên cố. Chị Hồng nhớ lại lần tiếp nhận một cá thể tê tê lớn trong khi chuồng nuôi bị hư hỏng. Không có thiết bị phù hợp, chị và đồng nghiệp trong trạm phải dùng dây buộc, gia cố tạm phần chuồng hỏng để tạo không gian đủ rộng cho con vật nghỉ ngơi, điều trị. “Lúc đó chỉ nghĩ làm sao để nó đỡ đau, đỡ hoảng loạn thôi”, chị bộc bạch. Những ca tự xoay xở như thế không hiếm tại trạm cứu hộ Vũ Quang.
Bên cạnh thiếu thốn về cơ sở vật chất, trạm cứu hộ gặp khó khăn về vấn đề nhân lực. Trong bối cảnh số lượng động vật hoang dã được tiếp cận ngày càng nhiều, phần lớn thuộc nhóm nguy cấp, quý hiếm, khoảng trống về nhân lực đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với hoạt động trạm cứu hộ, nhất là nhân lực có chuyên môn sâu về thú y, động vật hoang dã. Theo ông Thái Cảnh Toàn, đây là khó khăn mang tính hệ thống, không chỉ riêng ở Vũ Quang. “Để tuyển dụng được một bác sĩ thú y chuyên về động vật hoang dã rất khó. Hiện nay ở Việt Nam gần như chưa có cơ sở đào tạo bài bản về lĩnh vực này”, ông Toàn cho biết.
Trong những thiếu thốn chồng chất ấy, tình yêu nghề và trách nhiệm của những người làm công tác cứu hộ mới hiện lên rõ ràng hơn bao giờ hết. Với chị Hồng, mỗi cá thể động vật được đưa về trạm là một sinh linh cần được lắng nghe, quan sát và chăm sóc bằng tất cả sự kiên nhẫn. “Chỉ cần thấy nó chịu ăn trở lại, vận động bình thường là mình yên tâm hẳn”, chị nói.

Giữa đại ngàn Trường Sơn, trạm cứu hộ động vật hoang dã tại Vườn Quốc gia Vũ Quang là một mắt xích quan trọng trong chuỗi bảo tồn đa dạng sinh học khu vực Bắc Trung Bộ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nguồn nhân lực tại trạm còn khá mỏng, thiếu cán bộ có chuyên môn sâu về động vật hoang dã cùng thiết bị y tế còn hạn chế đang là những “nút thắt” lớn. Trong nhiều trường hợp, cán bộ trạm phải vừa làm công tác chăm sóc, theo dõi sức khỏe động vật, vừa tự tìm tài liệu, liên hệ chuyên gia để xử lý các ca bệnh phức tạp một cách linh hoạt nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu không có sự hỗ trợ kịp thời.
Theo ông Thái Cảnh Toàn, định hướng lâu dài của Vườn Quốc gia Vũ Quang là từng bước nâng cao năng lực cho trạm cứu hộ, coi đây là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược bảo tồn tổng thể. Trước mắt, Vườn ưu tiên cử cán bộ đi đào tạo, tập huấn luyện chuyên sâu tại các trung tâm cứu hộ trong và ngoài nước, đồng thời tăng cường trao đổi chuyên môn với các tổ chức bảo tồn quốc tế. “Chúng tôi xác định, muốn làm tốt công tác cứu hộ thì con người vẫn là yếu tố then chốt. Khi cán bộ được trang bị kiến thức và kỹ năng bài bản, hiệu quả cứu họ sẽ nâng lên rõ rệt”, ông Toàn nhấn mạnh.
Song song đào tạo nhân lực, việc đầu tư cơ sở vật chất cho trạm cứu hộ cũng là yêu cầu cấp thiết. Hệ thống chuồng trại cần được cải thiện theo hướng phù hợp hơn với tập tính từng loài, trang thiết bị y tế, thuốc đặc trị, công cụ chẩn đoán sức khỏe cần được bổ sung để giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm cảm tính. Đây không chỉ là điều kiện để nâng cao tỷ lệ cứu sống, mà còn giúp quá trình phục hồi đạt chuẩn, tạo tiền đề cho việc tái thả các cá thể về môi trường tự nhiên một cách an toàn và bền vững.
Những năm gần đây, trạm cứu hộ Vũ Quang đã bước đầu nhận được sự hỗ trợ từ một số tổ chức bảo tồn trong và ngoài nước thông qua các chương trình hợp tác về đào tạo và trang thiết bị. Dù nguồn lực còn khiêm tốn, nhưng đây được xem là tín hiệu tích cực, mở ra hướng đi mới cho công tác cứu hộ tại địa phương. Tuy vậy, theo các cán bộ trạm, để trạm cứu hộ thực sự trở thành “bệnh viện” đúng nghĩa cho động vật hoang dã, rất cần thêm sự quan tâm, đầu tư lâu dài từ các cấp quản lý, cũng như sự đồng hành của các tổ chức xã hội và cộng đồng.
Xem chi tiết bài viết tại https://preview.shorthand.com/fHDcW5OExJwog3TY
[Infographic] Cẩm nang bắt nhịp đại học dành cho tân sinh viên
(Sóng Trẻ) - Bước vào năm học 2026 - 2027, tân sinh viên cần sớm hoàn thiện thủ tục cư trú, đồng thời chủ động quản lý tài chính để tiết kiệm 30% chi phí và nhanh chóng thích nghi với môi trường đại học.
Báo chí Cách mạng Việt Nam: Trung thành với sứ mệnh, sáng tạo vì tương lai
(Sóng trẻ) - Giữa dòng chảy chuyển đổi số, Báo chí Cách mạng Việt Nam đang không ngừng đổi mới để thích ứng với thời đại. Sau 101 năm xây dựng và phát triển, báo chí vẫn giữ vững vai trò tiên phong, đồng hành cùng đất nước trên hành trình hội nhập và phát
Đề thi các môn Khoa học tự nhiên THPT 2026 đảm bảo mức độ phân hóa thí sinh
(Sóng trẻ) - Ngày 12/6, các thí sinh tham gia dự thi hai môn tự chọn của kỳ thi THPT. Đề thi các môn Khoa học tự nhiên được đánh giá có sự phân loại thí sinh, đảm bảo yêu cầu tốt nghiệp và xét tuyển.

![[Infographic] Cẩm nang bắt nhịp đại học dành cho tân sinh viên](https://media.songtre.com.vn/resize/283x160/uploads/news/2026/09/10/CẨM NANG BẮT NHỊP ĐẠI HỌC DÀNH CHO TÂN SINH VIÊN-1789035153.png)

-1781267352.jpg)