(Sóng trẻ) - Băng rừng, lội suối, dựng lán hàng chục km giữa đại ngàn, lực lượng bảo vệ rừng Vũ Quang ngày đêm tháo gỡ từng chiếc bẫy thú, trả lại sự bình yên vốn có cho các “cư dân” của rừng xanh.
Tay cầm dao rựa phát quang lối mòn bị cây cỏ che lấp, anh Trần Ngọc Sơn, cán bộ bảo vệ rừng Vườn Quốc gia Vũ Quang cùng cùng tổ tuần tra tiến vào rừng. Trước đó, bẫy ảnh được đặt trong khu vực vừa ghi nhận cá thể rùa mắc bẫy. Nhận được tin, tổ công tác lập tức cơ động, từng bước tiếp cận hiện trường.
Từ vị trí bẫy ảnh báo về, tổ tuần tra phải di chuyển thêm 3km đường rừng. Không khí đặc quánh, ẩm lạnh, mùi đất ướt phả thẳng vào sống mũi. Chân các anh đeo dép rọ, bước đi thoăn thoắt, tay trái cầm dao, tay phải cầm đèn pin soi đường, khi lại đột ngột đổi hướng để tránh cành cây chìa ra.
Một lúc sau, họ phát hiện chiếc bẫy giấu kỹ dưới lớp lá khô. “Có loại bẫy làm bằng dây phanh xe đạp, làm thành thòng lọng để phủ trong rừng, nếu thú đi qua dẫm phải thì mắc vào đấy. Đó gọi là bẫy tự chế của người dân”, anh Sơn chỉ tay vào chiếc bẫy dây, vừa tháo vừa nói.
Bẫy dây được thợ săn làm từ thân cây to bằng bắp tay, dùng sợi dây cáp lấy từ phanh xe đạp, xe máy nối vào rồi uốn cong tạo sức bật. Phần dây cáp để nằm dưới mặt đất quấn thành vòng tròn, ngụy trang bằng lá cây khô. Chỉ cần con thú vô tình dẫm phải, thân cây lập tức bật mạnh, sợi dây cáp siết chặt vào chân khiến con mồi không thể chạy thoát. Con vật càng vùng vẫy, sợi dây càng siết mạnh, vừa nhanh và vừa tàn nhẫn.

Anh Sơn là một trong số những cán bộ bảo vệ rừng thuộc Tổ tuần tra bảo vệ rừng và tháo gỡ bẫy dựa vào cộng đồng (CPT), được thành lập và vận hành nhằm tăng cường cho công tác bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Vũ Quang. Song, từ năm 2025, Vườn quốc gia Vũ Quang không còn lực lượng Kiểm lâm mà chuyển thành Lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, làm việc trực tiếp tại các trạm, phối hợp với cộng đồng địa phương để tuần tra, tháo gỡ bẫy và bảo vệ động vật hoang dã.
Một ngày làm việc của các anh bắt đầu từ 7h, khi ấy, mọi khâu chuẩn bị kể cả ăn sáng đều phải hoàn tất trước đó để đúng giờ vào việc. Ngày nào không đi rừng, các anh ở lại trực chốt. “Mùa nắng nóng dễ xảy ra cháy, chúng tôi trực cháy, kiểm soát người dân ra vào khu vực quản lý. Mùa mưa, các đối tượng hay có hiện tượng đặt bẫy bắt thú, chúng tôi cũng phải trực để ngăn chặn từ đầu những đối tượng vào rừng”, anh Sơn nói. Họ sinh sống và làm việc ngay tại trạm, làm việc cả thứ bảy, chủ nhật, “khi nào có việc riêng, cần thiết lắm mới nghỉ”.
Tổ liên tục thực hiện những chuyến tuần tra dài ngày xuyên rừng, kiên trì tìm kiếm, tháo gỡ bẫy thú và giải cứu động vật hoang dã. Ngoài mục tiêu giảm thiểu mối đe dọa đa dạng sinh học từ bẫy, nỗ lực tuần tra dựa vào cộng đồng còn giải quyết được thực trạng thiếu nhân lực của Vườn trong công tác tuần tra bảo vệ rừng tại “gốc”.
Trước mỗi chuyến tiến sâu vào rừng, các anh chuẩn bị tươm tất mọi thứ như gạo, nồi, xoong, chảo, dụng cụ. “Lượng thức ăn tùy thuộc vào số người, số ngày đi nhưng luôn phải chuẩn bị dư ra một chút. Nếu ở qua đêm phải mang võng, túi ngủ, bạt để đóng lán trại”, anh Trần Bình Hùng, cán bộ bảo vệ rừng thuộc Trạm Cứu hộ và Phát triển sinh vật nói. Có những cuộc tuần tra phải đi nhiều ngày, thậm chí cả tháng, đi sâu vào khu rừng hẻo lánh. Vì vậy, sự chuẩn bị kỹ lưỡng là “tấm khiên” bảo vệ các anh trong những chuyến tuần tra đầy thử thách
Đường vào rừng, theo lời anh Hùng, “rất nguy hiểm và gian nan”, các anh phải lội qua khe suối. Những lúc trời mưa to, nước chảy xiết, trong đoàn có người không biết bơi, người đi trước phải căng dây để người sau bám dây men theo. “Nếu gặp mưa lũ kéo dài, nước sông dâng cao, việc bị cắt đường về hoặc cô lập trong rừng nhiều ngày là chuyện thường tình”, anh chia sẻ.
Khi ấy, lương thực cạn dần, anh em buộc phải cắt giảm khẩu phần. “Bình thường ăn ba bữa thì giảm xuống còn một bữa, đang ăn cơm thì chuyển sang ăn cháo”, có khi họ phải hái rau rừng về nấu cháo cầm hơi, chờ thời tiết thuận lợi hoặc lực lượng bên ngoài tiếp cận được.
Lạc trong rừng cũng là điều không tránh khỏi, nhưng với bản đồ giấy và máy định vị được trang bị sẵn, anh em luôn cố gắng giữ an toàn. Trước mỗi chuyến đi, các điểm quan trọng đều được nhập sẵn trên thiết bị định vị. Nếu xảy ra sự cố, lực lượng hỗ trợ bên ngoài có thể dựa vào tọa độ để tiếp cận. Những ai có kinh nghiệm lâu năm chỉ cần nhìn bản đồ giấy, kết hợp quan sát địa hình thực tế là tìm được lối ra.
Không chỉ đối mặt với thú dữ và thiên nhiên khắc nghiệt, những cán bộ bảo vệ rừng từng phải đương đầu với hiểm nguy từ con người. Đã hơn 10 năm gắn bó với rừng, anh Trần Xuân Hưng vẫn nhớ như in lần trực tiếp chạm mặt lâm tặc. “Tôi gặp họ khi đang vận chuyển bè gỗ trên một con sông. Thấy động, họ bỏ lại gỗ rồi trốn vào rừng”, anh kể. Những loại gỗ bị khai thác trái phép thường là Lim, Trắc, Sến, Táu, Pơ mu. Sau khi giữ hiện trường, anh em chia nhau: người ở lại canh giữ, người quay ra ngoài báo cáo để xin thêm lực lượng hỗ trợ.
Khi đưa gỗ về, các anh lại quay về rừng để xác định chính xác vị trí gốc cây bị khai thác thuộc tiểu khu nào, số lượng bao nhiêu cây. Những bãi trống do cây lớn bị đốn hạ hay dấu vết kéo gỗ trên đất rừng, là manh mối quý giá để lần tìm hiện trường. “Phải đi tìm bằng được”, anh Hưng nói ngắn gọn.
Nếu thấy biểu hiện nghi vấn, các anh phải đi tuần xung quanh địa bàn. Trong quá trình đi tuần, không được sử dụng điện thoại, bật đèn, bởi cán bộ xác định vị trí khai thác trái phép bằng tiếng máy cưa xích, các đối tượng sẽ tạm dừng việc cưa cắt nếu thấy ánh sáng. “Đêm đến, trời có tối cũng phải lần mò mà đi”, anh Hưng kể.

Với những người làm công tác bảo hộ rừng, gia đình là nỗi nhớ nhưng cũng là điểm tựa. “Đồng chí nào nhà gần cơ quan, thỉnh thoảng tranh thủ về được, những ai nhà xa, có khi cả tháng mới được nhìn mặt vợ con một lần”.
Đằng sau những chuyến đi dài ngày ấy là sự hy sinh thầm lặng của gia đình. Vợ con ở nhà quen dần với việc chồng, cha đi biền biệt hàng tuần, thậm chí cả tháng. Khi vào rừng sâu, hoàn toàn không có sóng điện thoại, mọi liên lạc đều gián đoạn. “Có khi mở máy lên là thấy cả trăm cuộc gọi nhỡ”, anh Hùng kể. Ban đầu, gia đình lo lắng, nhưng rồi cũng dần hiểu và cảm thông.
Khi được hỏi về việc cân bằng cuộc sống, anh Hùng cười hiền: "Vợ con cũng phải thông cảm, lúc mới yêu cô ấy đã hiểu cái nghề của mình rồi". Với những người trẻ như anh Trần Ngọc Sơn, trước khi kết hôn, anh đưa bạn gái đến tận nơi làm việc để tận mắt chứng kiến sự khắc nghiệt, những khó khăn của nghề. Thấu hiểu những vất vả, thiếu thốn của anh, người bạn đời trở thành "hậu phương vững chắc", luôn cổ vũ, động viên anh trên mỗi bước đường tuần tra.
Dù công việc nhọc nhằn, phải đối mặt muôn vàn hiểm nguy, điều níu giữ họ ở lại, bám trụ với rừng đến từ nguồn động lực giản dị: tình yêu dành cho màu xanh đại ngàn. Anh Sơn chia sẻ, đó vừa là sở thích, vừa là niềm vui khi được trực tiếp chăm sóc, dõi theo từng bước phát triển của các cá thể động vật.
Còn với anh Hùng, ước mong lớn nhất là “mỗi người dân hãy chung tay bảo vệ rừng, để chúng ta luôn có một môi trường xanh, trong lành”. Tình yêu với rừng, với những sinh vật bé nhỏ trong đại ngàn đã trở thành sợi dây vô hình, gắn kết những con người nơi đây với thiên nhiên, bất chấp gian nan và hiểm nguy.

Song hành với công tác gỡ bẫy, cứu hộ các loài động vật hoang dã, nhiều năm qua, trong cuộc chiến âm thầm giữ lấy màu xanh cho đại ngàn, hệ thống bẫy ảnh (Camera trap) đã trở thành một hướng tiếp cận hiệu quả, góp phần quan trọng vào công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Vũ Quang.
Anh Đinh Trọng Hoàng, cán bộ Phòng Khoa học kỹ thuật và Hợp tác Quốc tế, vừa kiểm tra bẫy ảnh định kỳ, vừa chỉ ra những thành quả mà hệ thống này đã ghi lại suốt nhiều tháng ngày “mật phục” giữa rừng sâu. Dừng chân bên một gốc cây cổ thụ lớn phủ đầy rêu phong, anh kiểm tra chiếc bẫy ảnh nhỏ có vỏ màu rêu đá, được ngụy trang tài tình giữa lớp lá mục và cành khô. Anh cho biết, toàn bộ diện tích hơn 57.000 ha của Vườn được chia thành các ô lưới bản đồ khoa học, mỗi điểm đặt bẫy ảnh cách nhau khoảng từ 2 đến 2,5km, tương ứng với các ô lưới 2x2km hoặc 2,5x2,5km.

“Việc đặt bẫy ở đây đều là có chủ đích”, anh Hoàng nói. Hiện nay, toàn bộ khu vực vườn đã triển khai khoảng 160 bẫy ảnh, phủ kín các phân khu trọng điểm. Tùy vào mục tiêu giám sát mà mật độ máy được bố trí khác nhau: có nơi chỉ đặt một đến hai chiếc để theo dõi đa dạng sinh học chung, nhưng có những "điểm nóng" được ưu tiên để quan sát riêng biệt các nhóm loài như linh trưởng hay voi. Với lực lượng kiểm lâm, bẫy ảnh được ví như “cánh tay phải đắc lực”. Ưu điểm lớn nhất là cán bộ không cần túc trực tại chỗ đặt bẫy, giúp giảm thiểu tác động của con người đến môi trường tự nhiên.
Đều đặn hai tháng một lần, các anh lại vào rừng để thu thập thẻ nhớ và thay pin. Từ “kho tư liệu vô giá” này, hàng loạt hình ảnh về các loài động vật tưởng như đã biến mất đã được ghi lại như: voi châu Á, gấu ngựa, gấu chó, mang lớn và đặc biệt là loài thỏ vằn Trường Sơn cực kỳ quý hiếm. Riêng năm 2024, Vườn đã ghi nhận được 58 loài, trong đó có 9 loài đặc hữu vùng Bắc Trường Sơn và nhiều loài động thực vật nguy cấp quý hiếm có tên trong danh lục sách đỏ Việt Nam.

Thiết bị này còn được lắp đặt để giám sát người ra vào. Chỉ cần có chuyển động đi ngang qua, cảm biến hồng ngoại sẽ kích hoạt máy ghi hình, dựa trên thân nhiệt của con người và động vật. Những đối tượng mang theo vũ khí, công cụ săn bắt khi lọt vào khung hình đều được ghi lại rõ nét. Đây là nguồn chứng cứ quan trọng để phối hợp với lực lượng chức năng xử lý các hành vi vi phạm. Thực tế, đã có những vụ việc săn bắn trái phép bị phát hiện và xử lý nhờ hình ảnh thu được từ bẫy ảnh.
“Nhờ công cụ này, chúng tôi phát hiện được người vào rừng đặt tổ ong, đi rừng trái phép, hay những hành vi tưởng như khó phát hiện giữa không gian rừng rậm. Chỉ cần mang hình ảnh về đối chiếu là biết ngay”, anh Hoàng nói.
Là người có hơn 10 năm gắn bó với công tác đặt và quản lý bẫy ảnh, anh Hoàng cho biết việc duy trì hệ thống này không quá phức tạp. Các thiết bị được tài trợ từ dự án VFBC, công tác bảo dưỡng chủ yếu là thay pin, vệ sinh máy sau mỗi đợt thu thập dữ liệu. Nhờ khả năng chống nước tốt, bẫy ảnh có thể hoạt động ổn định trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của rừng sâu.
Tuy vậy, không phải lúc nào các thiết bị này cũng an toàn. Trong nhiều trường hợp, chính những “cư dân” của rừng lại trở thành mối đe dọa. Voi rừng, với bản năng nhạy cảm, thường phá hỏng bẫy ảnh do phát hiện phần kim loại trong vỏ máy. Anh Hoàng cười: “Những lúc như vậy, điều anh em chúng tôi hi vọng nhất là tìm lại được thẻ nhớ để lưu lại dữ liệu”.
Bên cạnh bẫy ảnh, hành trang của các cán bộ kiểm lâm ngày nay còn có sự trợ lực từ những thiết bị điện tử thông minh. Anh Hoàng vừa đi vừa rút chiếc điện thoại có cài sẵn ứng dụng Smart Mobile ra khoe, giải thích rằng đây là vật bất ly thân của anh em mỗi chuyến tuần tra: "Ngày xưa đi rừng chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và bản đồ giấy, nhiều khi lạc giữa rừng sâu là chuyện thường. Có những ngày mưa xối xả, bản đồ giấy ướt sũng chẳng còn nhìn rõ mặt chữ, anh em chỉ biết dựa vào nhau mà đi. Nhưng giờ có ứng dụng này thì nhàn hơn rồi”.
Hệ thống sử dụng định vị toàn cầu GPS, không cần sóng điện thoại vẫn hoạt động tốt kể cả ở những điểm rừng sâu, không có sóng. Thông qua bản đồ số trực tiếp trên điện thoại, các cán bộ được giám sát vị trí chặt chẽ và có thể định tuyến tuần tra một cách rõ ràng. Mọi biến động trên cung đường, từ những điểm sạt lở nguy hiểm đến các dấu vết tác động của con người, đều được ghi nhận, lưu giữ hình ảnh và cập nhật lên bản đồ để làm dữ liệu cho những đợt tuần tra sau.
Nhưng điều khiến những người làm công tác khoa học như anh Hoàng tâm đắc nhất chính là việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào công cuộc bảo tồn. Thay vì phải tiêu tốn hàng tháng trời để sàng lọc thủ công hàng vạn tấm ảnh, Vườn đã sử dụng phần mềm Wildlife Insights tích hợp AI để tự động nhận diện và định danh loài. Anh Hoàng chia sẻ: “AI giúp chúng tôi tự động gọi tên các loài thú từ dữ liệu bẫy ảnh chụp được, hỗ trợ đắc lực cho việc nghiên cứu và giám sát đa dạng sinh học”.
Vườn quốc gia Vũ Quang đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo vệ, bảo tồn và phát triển các loài động vật hoang dã, đặc biệt là những loài nguy cấp, quý hiếm đang hiện diện và phân bố trong rừng. Cùng với đó là sự phối hợp chặt chẽ cùng các cơ quan chức năng, viện nghiên cứu, trường đại học trong việc điều tra, nghiên cứu và giám sát các loài theo hướng bài bản, khoa học và lâu dài. Những dữ liệu thu thập được từ bẫy ảnh, bản đồ số hay các ứng dụng thông minh không chỉ phục vụ cho từng chuyến tuần tra, mà còn trở thành nền tảng quan trọng cho công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học, mở ra một cách tiếp cận mới, hiệu quả hơn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.

Từ nhiều năm nay, công tác giáo dục môi trường đã được Vườn quốc gia Vũ Quang xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, lâu dài. Theo ông Nguyễn Sang Trang, Trưởng phòng Giáo dục môi trường và Dịch vụ du lịch, giáo dục không chỉ là việc truyền tải các quy định pháp luật, mà còn là cầu nối giúp người dân hiểu đúng giá trị của rừng và các loài động vật hoang dã đang sống xung quanh họ. Những buổi tuyên truyền được tổ chức trực tiếp tại thôn bản, nhà văn hóa, hội quán, nơi người dân dễ tiếp cận nhất. Ở đó, các quy định pháp luật về bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã được diễn giải bằng ngôn ngữ gần gũi, gắn với chính những loài mà người dân thường gặp trong cuộc sống hằng ngày.
Sau mỗi đợt vận động, người dân còn ký cam kết với Vườn: không săn bắt, không bẫy bắt, không buôn bán, không nuôi nhốt động vật hoang dã, không chặt phá, lấn chiếm đất rừng hay đốt rừng làm nương rẫy. Những bản cam kết ấy không chỉ mang tính hình thức, mà dần trở thành sự ràng buộc về trách nhiệm và nhận thức. Thực tế cho thấy, trong nhiều năm gần đây, các vụ vi phạm tại vùng đệm Vườn quốc gia Vũ Quang gần như không còn xảy ra.
Sự thay đổi rõ nét nhất thể hiện ở chính những thói quen từng ăn sâu vào đời sống. Nếu trước đây, việc vào rừng săn bắt làm thực phẩm hay vì mục đích kinh tế vẫn còn phổ biến, hiện nay, hiện tượng này hầu như không còn. Người dân cũng không sử dụng gỗ rừng để làm đồ gia dụng hay chặt phá lâm sản mang về buôn bán. Đáng chú ý hơn, nhiều hộ từng nuôi nhốt động vật hoang dã làm thú cưng đã tự nguyện giao nộp lại cho Vườn. Riêng trong năm 2025, đã có gần 200 cá thể động vật được người dân tự giác bàn giao. Có những trường hợp, người dân bỏ tiền túi mua lại động vật hoang dã bị rao bán dọc đường để giao nộp cho lực lượng kiểm lâm.
Ông kể rằng một trong những chuyển biến rõ nét trong công tác tuyên truyền bảo vệ rừng thời gian qua đến từ chính thế hệ trẻ. Học sinh được giáo dục bài bản ngay từ ghế nhà trường về bảo vệ động vật hoang dã, đã dần trở thành những “tuyên truyền viên nhỏ tuổi” trong chính gia đình mình. Những kiến thức tiếp cận ở lớp học được các em mang về nhà, nhẹ nhàng nhắc nhở bố mẹ không săn bắt, không sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã, không tùy tiện vào rừng. Có em còn thẳng thắn nói với bố mẹ rằng, nếu làm trái, đến trường các bạn sẽ nhắc tới gia đình mình.
Song song với giáo dục, Vườn quốc gia Vũ Quang còn chú trọng phát triển sinh kế gắn liền với bảo tồn. Việc thành lập các tổ cộng đồng tham gia tuần tra, tháo gỡ bẫy, với sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương không chỉ giúp giảm áp lực lên lực lượng bảo vệ rừng mà còn góp phần tạo nên trách nhiệm cho người dân ở chính nơi mà họ đang sinh sống. Nhiều người dân đã được tuyển dụng, ăn ở, làm việc cùng Vườn, trở thành những “cán bộ bảo vệ rừng” ngay trên mảnh đất quê hương mình.
Ông Thái Cảnh Toàn, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Vũ Quang cũng nhấn mạnh rằng chính sự đồng thuận và tham gia của cộng đồng là yếu tố then chốt giúp tình trạng săn bắt thú rừng gần như không còn trong khoảng 5 năm trở lại đây. Người dân không chỉ là đối tượng được tuyên truyền, mà đã trở thành lực lượng nòng cốt trong công tác cứu hộ động vật hoang dã, từ phát hiện, thông báo đến trực tiếp giao nộp các cá thể bị thương, bị nuôi nhốt trái phép. “Nếu không có người dân, công tác cứu hộ không thể thành công”, ông Toàn khẳng định.
Xem chi tiết bài viết tại https://preview.shorthand.com/VGPCWCy3kuK8SeeT
[Infographic] Cẩm nang bắt nhịp đại học dành cho tân sinh viên
(Sóng Trẻ) - Bước vào năm học 2026 - 2027, tân sinh viên cần sớm hoàn thiện thủ tục cư trú, đồng thời chủ động quản lý tài chính để tiết kiệm 30% chi phí và nhanh chóng thích nghi với môi trường đại học.
Báo chí Cách mạng Việt Nam: Trung thành với sứ mệnh, sáng tạo vì tương lai
(Sóng trẻ) - Giữa dòng chảy chuyển đổi số, Báo chí Cách mạng Việt Nam đang không ngừng đổi mới để thích ứng với thời đại. Sau 101 năm xây dựng và phát triển, báo chí vẫn giữ vững vai trò tiên phong, đồng hành cùng đất nước trên hành trình hội nhập và phát
Đề thi các môn Khoa học tự nhiên THPT 2026 đảm bảo mức độ phân hóa thí sinh
(Sóng trẻ) - Ngày 12/6, các thí sinh tham gia dự thi hai môn tự chọn của kỳ thi THPT. Đề thi các môn Khoa học tự nhiên được đánh giá có sự phân loại thí sinh, đảm bảo yêu cầu tốt nghiệp và xét tuyển.

![[Infographic] Cẩm nang bắt nhịp đại học dành cho tân sinh viên](https://media.songtre.com.vn/resize/283x160/uploads/news/2026/09/10/CẨM NANG BẮT NHỊP ĐẠI HỌC DÀNH CHO TÂN SINH VIÊN-1789035153.png)

-1781267352.jpg)