(Sóng trẻ) - Hơn 40 năm sau khi rời chiến trường, ông Hà Minh Sơn - nguyên Quyền Trưởng ban Tác chiến Sư đoàn 314, Quân khu 2 vẫn nhớ rõ những trận đánh, những người đồng đội và hành trình qua ba cuộc chiến từ Nam ra Bắc. Từ ký ức được lưu giữ qua nhiều thập kỷ, ông đã viết nên cuốn tự truyện "Nam chinh Bắc chiến" để tri ân những đồng chí, đồng đội đã mãi nằm lại nơi chiến trường.


PV: Thưa ông, điều gì đã khiến ông quyết định rời ghế nhà trường để khoác lên mình màu áo lính trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt ?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Năm 1971, khi tôi đang học lớp 7B, anh xã đội trưởng tìm đến nhà và trao đổi với bố tôi về việc tôi đã đến tuổi nhập ngũ. Anh cho biết gia đình có thể làm đơn xin tạm hoãn vì tôi còn đang học dở, nhưng cũng nhấn mạnh lúc đó tiền tuyến đang rất cần thêm lực lượng.
Nghe câu chuyện ấy, tôi không do dự xin được xung phong nhập ngũ. Tôi nghĩ rằng trước sau mình cũng phải thực hiện nghĩa vụ của một người thanh niên. Hơn nữa chỉ còn ít ngày nữa là tốt nghiệp lớp 7, nếu may mắn trở về vẫn có thể tiếp tục con đường học tập. Trong lòng tôi lúc ấy còn một mong ước thầm kín, biết đâu khi ra chiến trường, tôi sẽ có cơ hội gặp lại hai người anh trai của mình đang tham gia tác chiến tại chiến trường miền Đông Nam bộ năm ấy.
Bố tôi im lặng rất lâu, đôi mắt đỏ hoe rồi gật đầu đồng ý. Ngày hôm sau, tôi đến bệnh viện huyện Tân Yên khám sức khỏe và đủ điều kiện nhập ngũ.
Xã tôi năm ấy có gần 20 người cùng nhập ngũ. Phải nói phong trào: “Thóc không thiếu 1 cân, quân không thiếu 1 người”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”. Các phong trào đó đã được học tập từ cấp 1, đến cấp 2, cấp 3 trong các trường phổ thông và các đoàn thể Thanh thiếu niên ở xã. Từ đó đã thôi thúc trong tôi tinh thần sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi đất nước cần và kêu gọi.
PV: Vào chiến trường chống Mỹ ở miền Đông Nam bộ khi tuổi còn rất trẻ, những khó khăn, thử thách đầu tiên mà ông phải đối mặt là gì?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Tôi được bổ sung vào Đại đội trinh sát 21 Trung đoàn 165, Sư đoàn 7 (còn có mật danh là “Công trường 7”). Cái khó khăn lớn nhất mà lính mới chúng tôi phải đối mặt là thiếu kinh nghiệm chiến đấu, nên cần nhanh chóng thích nghi hoàn cảnh của chiến trường để tiêu diệt địch mà mình vẫn sống sót.
Mấy ngày đầu, tôi được phân công đem cơm nước cho anh em ở ngoài trận địa, đi đêm dưới tầm pháo sáng địch thả rõ như ban ngày, chờ tắt lại nhanh chóng vận động, dưới làn pháo địch bắn dữ dội tối tăm mặt mũi, tôi rất sợ và cứ bám sát các anh lính sợ, vừa chạy, vừa nằm, nấp sau những ụ mối để tránh đạn. Thế rồi cũng đến được trận địa, bàn giao cơm, nước cho anh em rồi lại quay về căn cứ.
Cũng may mà sau 3, 4 đêm như vậy, tôi cũng quen dần với tiếng nổ của đạn pháo, cối địch. Và rồi tôi cũng dần trở thành những người lính trinh sát thực thụ, trưởng thành lên qua từng trận chiến đánh.
PV: Sau năm 1975, ông được điều động tham gia nhiệm vụ tại biên giới Tây Nam. Ông có thể cho biết bối cảnh chiến đấu và nhiệm vụ chính của đơn vị lúc đó?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà. Chúng tôi trở về sau chiến tranh, khi ấy được bố trí theo các chế độ: người phục viên, người chuyển ngành hay người tiếp tục ở lại quân đội để huấn luyện, xây dựng lực lượng.
Còn tôi được điều động tham gia nhiệm vụ tại biên giới Tây Nam trong bối cảnh xung đột với tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary. Đơn vị vừa chiến đấu vừa tổ chức phòng ngự trong điều kiện rất phức tạp, giao tranh và pháo kích diễn ra thường xuyên.
Ngày 17/12/1977, tôi được giao chỉ huy chuẩn bị sở chỉ huy Trung đoàn tại Choi chéch, Savay Rieng thì bất ngờ bị địch tập kích. Tôi báo cáo cấp trên và nhận lệnh rút lui từng bước, bảo toàn lực lượng, đồng thời tiếp tục bám nắm tình hình. Sau đó, đơn vị rút về đất Việt Nam, triển khai phòng ngự sát biên giới trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao.

PV: Trên cương vị Quyền Trưởng ban Tác chiến Sư đoàn 314 tại chiến trường Vị Xuyên (Biên giới phía Bắc), áp lực lớn nhất trong công tác tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án tác chiến mà ông phải đối mặt khi đó là gì?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Khi tôi đảm nhiệm Quyền Trưởng ban Tác chiến Sư đoàn 314 vào cuối năm 1987, chiến sự tại Vị Xuyên đã giảm so với trước, nhưng áp lực thì vẫn rất lớn. Mỗi phương án tác chiến đều gắn trực tiếp với sinh mạng bộ đội, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể trả giá bằng máu.
Tôi tham gia bảo vệ biên giới Hà Tuyên từ năm 1979 đến 1988, hầu như trận đánh nào cũng có mặt ở Sở chỉ huy hoặc xuống tận trận địa. Ám ảnh nhất là trận đánh ngày 9/5/1984 của Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 818, đánh chiếm lại cao điểm 1509. Do chủ quan, trinh sát và chuẩn bị chưa kỹ, đơn vị vấp phải hỏa lực dày đặc của địch, thương vong rất lớn. Sau trận, khi tận mắt chứng kiến đồng đội hy sinh, phần lớn còn rất trẻ, tôi thực sự day dứt và cảm thấy trách nhiệm của người làm công tác tác chiến nặng nề hơn bao giờ hết.
PV: Theo ông, tại sao mặt trận Vị Xuyên lại được mệnh danh là “lò vôi thế kỷ”?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Tôi thấy rằng vì đây là một trong những chiến trường ác liệt, kéo dài và có mức độ hủy diệt lớn nhất trong các cuộc chiến bảo vệ biên giới. Cuộc chiến diễn ra suốt 10 năm (1979-1989), với quy mô tham chiến rất lớn: phía địch huy động hơn 50 vạn quân thuộc 8/11 đại quân khu; phía ta có 9 sư đoàn chủ lực cùng các đơn vị độc lập, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến.
Mức độ thương vong đặc biệt nặng nề, điển hình là trận MB84 ngày 12/7/1984 với gần 1.000 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và bị thương, được bộ đội gọi là “ngày giỗ trận”. Chỉ trong giai đoạn 1984-1989, địch đã bắn hơn 1 triệu quả đạn pháo, cối vào một khu vực hẹp, có ngày tới hàng vạn quả, khiến đá vôi bị nung vỡ thành bột, nhiều mỏm đồi bị bạt thấp đi. Chính sự tàn khốc ấy khiến người lính gọi nơi đây là “lò vôi thế kỷ” một chiến trường từng ít được nhắc tới nhưng có cái giá hy sinh vô cùng lớn.
PV: Riêng với chiến trường Vị Xuyên, điều gì ở mặt trận ấy khiến ông nhớ và day dứt nhất cho đến ngày hôm nay?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Với Vị Xuyên, điều khiến tôi day dứt nhất cũng là nỗi niềm chung của nhiều cựu chiến binh là sự ác liệt kéo dài không dứt: không ngày nào im tiếng súng, không ngày nào không có thương vong. Người lính phải bám trụ trên địa hình toàn đá tai mèo, dốc đứng, thời tiết khắc nghiệt; vật chất thiếu thốn, nước uống hạn chế; bệnh tật, côn trùng, chuột bọ, lũ quét luôn rình rập. Gian khổ và hy sinh là thường trực.

Nỗi trăn trở lớn nhất đến hôm nay vẫn là chưa tìm kiếm, quy tập hết hài cốt liệt sĩ. Hàng nghìn đồng đội còn nằm lại đâu đó trên trận địa năm xưa; có trường hợp đã đưa về nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính. Nhiều người vẫn ám ảnh vì mất chốt, mất xác đồng đội khi vị trí bị địch chiếm giữ. Chúng tôi mong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ nhất là trong chiến dịch 500 ngày đêm sẽ được đẩy mạnh, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027).
Giữa lằn ranh sinh tử mong manh, tôi vẫn là con người vẫn nhớ gia đình, người thân, vẫn tranh thủ những khoảng lặng hiếm hoi để viết thư. Thời chống Mỹ, một lá thư đi về có khi mất 6-7 tháng, nhưng đó là chỗ dựa tinh thần để chúng tôi bền gan nơi chiến trường.
PV: Đi qua ba cuộc chiến liên tiếp, chứng kiến nhiều đồng đội ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, điều gì đã giúp ông và những người lính cùng thế hệ có thể vượt qua nỗi sợ hãi, giữ vững ý chí chiến đấu trong suốt những năm tháng sinh tử ấy?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Đi qua ba cuộc chiến, chứng kiến nhiều đồng đội hy sinh, có những mất mát ám ảnh suốt đời, nhưng chính sự hy sinh ấy lại tôi luyện ý chí của người lính. Càng thấy đồng đội ngã xuống, chúng tôi càng thêm căm thù giặc, càng quyết tâm chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc và trả nghĩa cho những người đã nằm lại. Dù biết trận đánh sau có thể đến lượt mình, chúng tôi vẫn không dao động.

Điều giúp chúng tôi vượt qua nỗi sợ là lý tưởng, tình đồng chí đồng đội và trách nhiệm với đất nước. Trong gian khổ, thiếu thốn lương thực, thuốc men, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết từ chiến trường miền Đông Nam Bộ đến Vị Xuyên chính niềm tin, sự gắn bó và quyết tâm “còn người còn trận địa” đã giúp người lính đứng vững suốt những năm tháng sinh tử.

PV: Sau nhiều năm rời quân ngũ, điều gì đã thôi thúc ông viết nên cuốn tự truyện “Nam chinh Bắc chiến”?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Nhiều đêm nằm suy nghĩ, mình phải làm gì đó nhằm lưu giữ lại những kỷ niệm sâu sắc trong thời gian quân ngũ, cũng để thay “nén tâm nhang” tri ân những đồng đội đã ngã xuống trên khắp các chiến trường ác liệt. Càng nghĩ, tôi thấy mọi thứ như mới vừa diễn ra giống như một cuốn phim quay chậm.
Mặc dù thời gian đã qua lâu, nhưng những ký ức vẫn không bao giờ phai nhạt trong tôi. Thế là tôi hạ quyết tâm, bắt đầu viết từ năm 2015, qua gần 4 năm mới xong bản thảo.
Trong thời gian viết sách, tôi vừa viết vừa chăm sóc người vợ bị tai biến liệt nửa người. Đến khi gặp được Đại tá, nhà văn Đặng Vương Hưng đã giúp tôi biên tập thành cuốn sách như bây giờ và đã chính thức ra mắt cuốn tự truyện “Nam chinh Bắc chiến” vào năm 2022 tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.
PV: Cuốn tự truyện được ông ghi lại rất chi tiết họ tên, quê quán, thậm chí cả tính cách của những đồng chí, đồng đội mình. Vậy ông đã lưu giữ những ký ức và “dữ liệu” sống động ấy bằng cách nào?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Tôi chưa từng ghi nhật ký hay lưu giữ tài liệu trong những năm tháng chiến đấu, nhưng sau hàng chục năm, nhiều trận đánh, địa danh và hình ảnh về đồng chí, đồng đội vẫn còn hiện lên rất rõ trong trí nhớ của tôi, như mới vừa xảy ra hôm qua. Tất cả những gì được viết trong cuốn tự truyện này chủ yếu đều được tôi hồi tưởng lại bằng ký ức của mình. Có lẽ nhờ từ nhỏ tôi đã yêu thích đọc sách, viết văn, làm thơ nên khả năng ghi nhớ cũng tốt hơn.

Trong quá trình viết, tôi cũng tìm đọc và tham khảo thêm các cuốn lịch sử của đơn vị cũ như Trung đoàn 165, Sư đoàn 7 cùng nhiều tài liệu, sách báo khác để tự kiểm chứng những thông tin được ghi lại từ ký ức của mình.
Tôi luôn biết ơn đồng đội, đồng chí và những người đã giúp đỡ mình hoàn thành cuốn sách, để những ký ức của một thời quân ngũ hào hùng có thể được lưu giữ trọn vẹn.
PV: Khi nhìn lại đứa con tinh thần này, điều gì trong cuốn tự truyện khiến ông xúc động và day dứt nhất?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Trong cuốn tự truyện này, tôi có những tái hiện về các trận đánh gắn liền với các giai đoạn của lịch sử cách mạng đất nước, dù có trận không thành công nhưng không thể nào quên, vì trong đó có bao đồng chí, đồng đội của tôi cùng chung chiến hào đã ngã xuống không bao giờ trở về, trong đó có cả anh trai tôi liệt sĩ Hà Văn Lâm, hy sinh năm 1973, tại miền Đông Nam bộ, đến nay vẫn chưa thể tìm thấy hài cốt của anh ấy.
PV: Ông mong muốn gửi gắm điều gì tới thế hệ trẻ hôm nay qua những trang viết của mình?
Đại úy, cựu chiến binh Hà Minh Sơn: Mục đích của tôi khi viết cuốn sách này với mong muốn gửi gắm tới bạn đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ, sự quan tâm nhiều hơn đến lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Qua đó, mỗi người thêm trân trọng những giá trị lịch sử, biết ơn và tri ân những hy sinh, cống hiến của bao thế hệ cha ông đã xả thân không tiếc máu xương vì độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân.

Từ đó mà hun đúc nên tình yêu quê hương, đất nước, sẵn sàng cống hiến cho non sông đất nước và Nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới.
PV: Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!
Gần 125.000 học sinh Hà Nội chính thức bước vào cuộc đua lớp 10 công lập
(Sóng trẻ) - Sáng 30/5, học sinh Hà Nội chính thức bước vào kỳ thi tuyển sinh lớp 10 công lập tại 224 điểm thi. Sĩ tử, phụ huynh và địa điểm thi trong tâm thế sẵn sàng cho môn thi đầu tiên.
Giải bài toán thích ứng của sinh viên ngành Báo chí qua tọa đàm “Năng lực cạnh tranh của nhân lực trẻ trong thời đại AI”
(Sóng trẻ) - Sáng 16/5, tọa đàm “Năng lực cạnh tranh của nhân lực trẻ trong thời đại AI” thuộc khuôn khổ Ngày hội Việc làm - AJC Job Fair 2026 đã cung cấp cho sinh viên những kỹ năng và góc nhìn thực tế để thích ứng với thị trường lao động thời đại số.
Học viện Báo chí và Tuyên truyền giành giải ba Hội thi Olympic Triết học 2026
(Sóng trẻ) - Chiều 9/5, Hội thi Olympic Triết học năm 2026 diễn ra tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trải qua nhiều vòng thi căng thẳng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền về đích với một giải nhất và một giải ba chung cuộc.



