
(Sóng trẻ) - Trong cấu trúc phường nghề Thăng Long xưa, chùa và đình không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm sinh hoạt tinh thần, gắn kết cộng đồng cư dân. Trải qua nhiều thế kỷ, các di tích này vẫn hiện diện trên bản đồ di sản, nhưng trong nhịp đô thị hóa dày đặc hôm nay, không ít công trình đang bị thu hẹp không gian hoặc biến đổi chức năng.

Lọt thỏm giữa “tấc đất tấc vàng” của phường Hoàn Kiếm, chùa Hàm Long (số 18 Hàm Long) - một “danh thắng trong ba mươi sáu cõi thiền” xưa kia, nay đang phải gồng mình tồn tại trong hình hài siêu thực: chùa nằm trong ngõ, tháp tổ biến thành bếp và bia cổ bị “giam lỏng” giữa nhà dân.
Nếu không có biển chỉ dẫn, hiếm ai tin được, sâu trong con ngõ nhỏ phố Hàm Long lại là lối vào của một di tích quốc gia hơn nghìn năm tuổi. Ở đây, ranh giữa giới chốn linh thiêng và không gian sinh hoạt mong manh đến lạ. Người đi lễ chùa phải lách qua những hàng quán vỉa hè, nương theo lối cầu thang xập xệ để vào gian thờ chính. Bên trong gian thờ, mùi hương trầm thanh khiết cố gắng len qua những mảng tường ẩm mốc, xung quanh chỉ còn những món đồ đạc cũ kỹ, chất đống lên vì không có chỗ chứa.
Trái ngược với diện mạo khiêm tốn hiện tại, chùa Hàm Long từng có một quá khứ huy hoàng. Theo tư liệu lưu giữ tại chùa, nơi đây xưa thuộc thôn Hàm Châu, huyện Thọ Xương, phía Đông Nam kinh thành Thăng Long. Ban đầu là đền Hội Khánh thờ Long Thần Ngô Long - vị phụ đạo thời Hùng Duệ Vương có công dẹp giặc Hồ Lư ở Châu Hoan. Đến triều Lý, khi vua Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long, nhận thấy ngôi đền gắn với huyền tích “con Rồng cháu Tiên”, nhà vua gia phong Long Thần và cho chuyển đền thành chùa. Thế đất được ví như rồng ngậm ngọc (Hàm Châu Long), từ đó hình thành tên gọi chùa Hàm Long.
Từ thế kỷ XVII, vua Lê - chúa Trịnh nhiều lần cúng tiền của, ruộng đất để trùng tu, mở mang. Chùa khi ấy có chánh điện, tam quan, gác chuông cùng hệ thống tượng sơn son thếp vàng uy nghi, trở thành một trung tâm Phật giáo tráng lệ giữa kinh thành.
Năm 1947, trong khói lửa kháng chiến, chùa bị tàn phá nặng nề. Nhiều hạng mục bị hủy hoại, chỉ còn lại hai bia đá dựng năm 1714, hai tháp thờ xá lợi và hai giếng ngọc. Giữa hoàn cảnh chiến tranh, các vị cao tăng vẫn vận động Phật tử góp công, góp của dựng lại hai dãy nhà hai tầng để vừa thờ Phật, vừa giảng pháp - giữ mạch sinh hoạt tâm linh không bị đứt đoạn.
Thế nhưng, nếu đối chiếu tư liệu xưa với hiện trạng hôm nay, có thể thấy phần kiến trúc còn lại chỉ là mảnh ghép nhỏ của một tổng thể từng rộng lớn. Sư cô Thích Đàm Tâm - người trông coi tại chùa Hàm Long chia sẻ: “Từ sau năm 1947, một phần đất chùa được sử dụng làm trường học suốt hàng chục năm. Ngôi chùa chỉ còn lại một phần rất nhỏ so với trước kia. Tầng một gần như không thể sử dụng; khu nhà Tổ, nhà Mẫu đã mất hẳn; cổng xưa cũng không còn”.

Mỗi mùa mưa đến, nỗi lo lại chồng chất. Tầng hai của khu nhà hiện hữu dột khắp nơi, nước mưa thấm qua mái và tường. Các tu sĩ buộc phải đặt thùng xốp khắp gian phòng để hứng nước, khắc phục tạm thời trong điều kiện cơ sở vật chất xuống cấp nghiêm trọng.
Không gian vốn tương đối độc lập với khu dân cư dần bị chia cắt, các hạng mục tách rời, khó nhận diện cấu trúc ban đầu. Hai tháp tổ cổ từng thuộc về chùa giờ bị tách khỏi khuôn viên chính, thậm chí có ngôi tháp biến thành bếp của nhà dân, làm hạn chế việc tiếp cận và bảo tồn. Giếng ngọc cổ bị bịt lại, biến thành khu vệ sinh, nơi giải khát trong khuôn viên trường học. Bia cổ và di vật giá trị từng dựng tại khuôn viên chùa hiện bị “nhốt” trong nhà dân hoặc bị vứt lăn lóc trong khu vực trường học cũ; nhiều phần đã bị vỡ, chữ khắc trên bia cổ dần biến mất do bị tác động ngoài ý muốn.

Hiện trong khuôn viên di tích ở 18 ngõ Hàm Long có 7 lớp học thuộc trường Tiểu học Võ Thị Sáu với khoảng 200 học sinh, khiến việc đảm bảo không gian sinh hoạt tôn giáo lẫn cơ sở vật chất dạy học đều gặp khó khăn. Theo sư cô, điểm trường này sẽ phải di dời để phục vụ kế hoạch trùng tu, tôn tạo di tích của phường Hoàn Kiếm, nhưng mọi việc vẫn đang chờ triển khai. “Chúng tôi rất mong chùa sớm được tu sửa, có cơ quan đứng ra giải quyết dứt điểm để giữ lại sự uy nghiêm của di sản nghìn năm này”, sư cô bày tỏ.

Đứng trước hiện trạng nhiều phần xuống cấp của chùa, bà Đinh Thị Hoa (48 tuổi, phường Hồng Hà) - một Phật tử thường đến chiêm bái tại chùa Hàm Long không giấu được sự trăn trở: “Có lẽ đây là ngôi chùa có diện tích khiêm tốn nhất tôi từng đi lễ bái ở Hà Nội. Tôi đã từng tìm gặp, hỏi thăm một số người có công xây dựng, trùng tu chùa để tìm hiểu hướng khắc phục về tình trạng hiện nay của chùa Hàm Long, song chưa nhận được phản hồi cụ thể”.

Vì vậy, theo bà Hoa, câu chuyện tu sửa, mở rộng khuôn viên chùa dường như vẫn chỉ có thể dừng lại ở sự chờ đợi - một sự chờ đợi đặt vào chữ “duyên”.
Giữa không gian bị vây kín bởi các công trình dân cư và cơ sở kinh doanh xung quanh, chùa Hàm Long vẫn duy trì nhịp sinh hoạt tín ngưỡng thường nhật. Phật tử vẫn tìm đến vào ngày sóc vọng, tiếng chuông vẫn vang lên giữa khu phố đông đúc. Thế nhưng, tiếng chuông chùa linh thiêng như đang lọt thỏm giữa những mét vuông không gian bị sử dụng cho mục đích khác, lặng lẽ chờ đợi suốt nhiều thập kỷ một sự vào cuộc để được “hồi sinh”.

Đất Hà Thành xưa có câu “Khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ” để chỉ về những nghề đòi hỏi tinh xảo như kim hoàn mỹ nghệ, chế tác đồ trang sức hay cả những nghề bình dân. Trong khu vực 36 phố phường, vốn là trung tâm kinh tế - văn hóa của kinh thành Thăng Long, đình thờ tổ nghề được coi như “chứng tích” của các phường nghề truyền thống.
Theo bản khai thần tích thần sắc của Viện Viễn Đông Bác Cổ năm 1938 và hồ sơ lưu tại Ban Quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội thì trước đây, có tới 15 cơ sở thờ cúng tổ các ngành nghề. Tuy nhiên, do thời gian và những biến đổi của lịch sử, một số nghề đã không còn tồn tại và cùng với đó là những di tích thờ cúng tổ nghề cũng bị mai một và suy tàn.

Tính đến thời điểm năm 2013, trong đợt tổng kiểm kê di tích của thành phố Hà Nội thì trong khu Phố Cổ Hà Nội, chỉ khoảng 9 di tích thờ cúng tổ nghề như: đình Hoa Lộc (thờ tổ nghề nhuộm), đình Kim Ngân, đình Trương Thị (thờ tổ nghề kim hoàn), đình Tú Thị (thờ tổ nghề thêu), đình Phúc Hậu (thờ tổ nghề tráng gương), đình Hà Vĩ (thờ tổ nghề sơn), đình Trúc Lâm (thờ tổ nghề giày da), đình Đồng Lạc (thờ tổ nghề cổ yếm), đình Lò Rèn (thờ tổ nghề rèn sắt).
Xưa kia, phố Hàng Thiếc nổi tiếng với các sản phẩm thủ công làm từ thiếc như đèn dầu, chân nến, lư hương… phục vụ cho đời sống sinh hoạt và tín ngưỡng của người dân kinh thành. Thế nhưng, theo bà Ngọc, một người sống gần đình Hàng Thiếc cho hay, nơi đây đã trở thành “phế tích” từ nhiều năm về trước.
Tương truyền tổ nghề là một người họ Đỗ, quê ở Đan Hội. Sau khi sang Trung Quốc học nghề, ông trở về truyền dạy cho người dân trong vùng. Để tưởng nhớ công lao ấy, dân phường đã lập đình thờ tổ.
“Ngôi đình nằm trên phố Hàng Nón. Trước đây, đình có diện tích rộng rãi hơn. Nhưng từ những năm 80, khi nghề làm thiếc dần mai một, ngôi đình cũng không còn người trông nom, chăm sóc. Ngày nay, ngay cả con cháu của những gia đình từng làm nghề đôi khi cũng không biết nơi này từng là đình thờ tổ”, bà Ngọc ngậm ngùi chia sẻ.

Hiện nay, ngôi đình ẩn sâu trong con ngõ chưa tới 1m. Vì không nằm trong các di tích được công nhận, nơi đây chỉ có một ban thờ nhỏ dưới gốc đa cổ thụ, bao quanh bởi nhà của hơn hai chục hộ dân. Điều duy nhất để xác định đình Hàng Thiếc tại địa chỉ số 2A phố Hàng Nón là bức hoành phi ghi 4 chữ “Đông Thổ Cổn Y”.
Bà Ngọc cho biết, đình vẫn còn khu vực hạ ban để thờ các quan Ngũ Dinh. Người dân xung quanh từng cùng nhau đóng góp để tu sửa, tôn tạo và rước thêm Mẫu về thờ. Vào những ngày Rằm hay mùng một, người dân cũng mang hoa quả, hương khói tới dâng lễ.
Cách đó không xa, trên con phố Hàng Bạc, một trong những con phố nghề thủ công đến nay vẫn còn phát triển. Giữa dãy cửa hàng kim hoàn san sát, ít ai để ý rằng nơi đây từng tồn tại những ngôi đình thờ tổ nghề, gắn liền với lịch sử hình thành của phường thợ bạc.
Ghé thăm ngôi đình cổ Trương Thị (số 50 Hàng Bạc), nơi thờ ông tổ nghề kim hoàn, vào ngày Rằm giữa tháng, nhiều người không khỏi thắc mắc khi cánh cửa đình vẫn đóng kín, không mở để người dân vào lễ.
Lý giải cho điều này, ông Trần Văn Thịnh (đã thay đổi tên nhân vật), hơn 40 năm sinh sống tại khu vực gần đó cho biết: “Đình có người trông coi, nhưng các tượng thờ và đồ thờ chính đã được chuyển sang đình Kim Ngân từ lâu. Bây giờ ở đây chủ yếu chỉ thờ vọng và thờ gia tiên của gia đình. Người dân cũng không vào thắp hương, vì không còn thờ tổ nghề như trước nữa”.
Hai ngôi đình cách nhau chỉ vài căn nhà. Theo tư liệu lịch sử, Phố Hàng Bạc có đình Trương Thị và Kim Ngân, ra đời trong cùng khoảng thời gian, thờ chung một vị là thần Hiên Viên, ông tổ trăm nghề. Nhưng nếu đình Kim Ngân đã được tu bổ, tôn tạo, thì đình Trương Thị hầu như không ai biết đến.
Năm 2019, đình được UBND quận Hoàn Kiếm công nhận là di tích kiến trúc - nghệ thuật của thành phố. Sự ghi nhận này cho thấy giá trị lịch sử và nghề nghiệp đặc thù của di tích.
Tuy nhiên, trên thực tế, công trình hiện chỉ còn lại những dấu tích rời rạc. Phần khung gỗ nhiều vị trí đã xuống cấp, chân cột mục, xà ngang cũng bị ăn mòn theo thời gian. Kiến trúc còn lại của ngôi đình hiện nay bị lọt thỏm giữa dãy cửa hàng kim hoàn san sát, biển hiệu sáng đèn cả ngày lẫn đêm.
Người xưa có câu “phú quý sinh lễ nghĩa”, cuộc sống đủ đầy hơn thường kéo theo nhu cầu gìn giữ và tri ân cội nguồn. Thế nhưng giữa một con phố nghề vẫn sáng đèn mỗi ngày, ngôi đình từng là nơi tưởng nhớ tổ nghề lại dần vắng bóng khói hương. Phải chăng khi nghề còn đó nhưng ký ức về nghề phai nhạt, những mái đình tổ cũng dần trở nên xa lạ với chính cộng đồng đã từng tạo dựng nên chúng?

Với diện tích chỉ khoảng 82ha, nhưng khu phố cổ Hà Nội có 121 di tích các loại, trong đó có 25 di tích cấp quốc gia. Sau năm 1954, do những khó khăn về chỗ ở, nhiều gia đình “mượn” các đình, chùa làm nơi cư trú tạm thời. Thế nhưng, quá trình “tạm” ấy đã kéo dài qua nhiều thập kỷ. Cùng với đó, sự thiếu chặt chẽ trong quản lý khiến không ít di tích bị lấn chiếm, thu hẹp, thậm chí biến dạng.
Trong nhịp phát triển sôi động của đô thị, Hà Nội đang phải đối diện một câu hỏi không dễ trả lời: làm thế nào để gìn giữ ký ức ngàn năm giữa vòng xoáy hiện đại hóa? Khi những tòa nhà cao tầng mọc lên ngày một dày, số phận của các di tích lịch sử - văn hóa lại trở thành bài toán cân não giữa bảo tồn và phát triển.
Theo ThS. Đỗ Minh Nghĩa - chuyên gia khảo cổ học, công tác tại Viện Bảo tồn di tích, khó khăn lớn nhất hiện nay chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn và nhu cầu phát triển đô thị, dân sinh. “Di tích là một loại hình di sản đặc biệt. Nó tồn tại ngay trong không gian sống của cộng đồng, không thể tách rời khỏi đời sống xã hội như hiện vật trong bảo tàng. Vì vậy, di tích luôn chịu tác động đồng thời của tự nhiên, môi trường và con người”, ông nhấn mạnh.

Từ thực tiễn, ThS. Đỗ Minh Nghĩa chỉ ra hàng loạt “điểm nghẽn”. Trước hết là sự thiếu hụt hồ sơ khoa học đầy đủ. Nhiều di tích chưa được khảo sát, đo vẽ, nghiên cứu một cách hệ thống. Khi tu bổ, không xác định rõ đâu là yếu tố gốc, đâu là phần bổ sung qua các thời kỳ, dẫn tới nguy cơ thay thế tùy tiện, làm phai mờ dấu tích lịch sử.
Thứ hai là sự thiếu hụt nguồn lực và chuyên môn chuyên sâu. Bảo tồn di tích là công việc liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp của khảo cổ học, kiến trúc, lịch sử, vật liệu học… Thế nhưng trên thực tế, không ít dự án trùng tu lại thiếu sự tham gia đầy đủ của các chuyên gia, khiến chất lượng bảo tồn bị đặt trước dấu hỏi.
Thứ ba là vấn đề nhận thức cộng đồng. Ở một số nơi, di tích vẫn được nhìn nhận đơn thuần là không gian tín ngưỡng. Việc sửa chữa, sơn mới, thay thế cấu kiện diễn ra theo nhu cầu sử dụng trước mắt mà chưa cân nhắc thấu đáo đến giá trị nguyên gốc.
Cuối cùng là áp lực môi trường đô thị: ô nhiễm không khí, độ ẩm cao, rung chấn từ giao thông và xây dựng… tất cả đang đẩy nhanh quá trình xuống cấp của các công trình cổ.
Ở góc độ khác, TS. Tạ Thị Tâm - công tác tại Viện Dân tộc học và Tôn giáo học cho rằng: “Sự mai một của các đình thờ tổ nghề là một xu hướng đáng lo ngại trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Khi nghề thủ công truyền thống không còn đảm bảo sinh kế, sự truyền nghề giữa các thế hệ bị đứt gãy thì không gian thờ tự và ký ức về tổ nghề cũng dần phai nhạt”.

Cũng là một trong những ngôi chùa lâu đời của đất Thăng Long, chùa Thánh Chúa (phường Dịch Vọng Hậu) hiện nằm trong khuôn viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và đối diện Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. So sánh trường hợp này với chùa Hàm Long, bà Tâm cho rằng sự khác biệt nằm ở công tác quản lý và ý thức cộng đồng. Cùng là di tích nằm trong khuôn viên cơ sở giáo dục, nhưng nếu có sự quản lý chặt chẽ, phân định ranh giới rõ ràng và sự tôn trọng của cộng đồng, không gian linh thiêng vẫn có thể được bảo toàn. Câu chuyện của chùa Thánh Chúa cho thấy, khi có sự đồng thuận giữa nhà trường, chính quyền và người dân, nơi cổ tự không những được gìn giữ mà còn trở thành điểm tựa văn hóa trong lòng đô thị.

Từ thực tế đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là trùng tu một công trình, mà là phục hồi cả hệ sinh thái văn hóa gắn với nó. Điều này đòi hỏi chính sách bảo tồn dài hơi, các lớp truyền dạy, phục dựng nghề truyền thống, đặc biệt là những nghề gắn với đất Thăng Long xưa, để không gian di tích tiếp tục “sống” trong đời sống đương đại.
Trong bối cảnh ấy, Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam được kỳ vọng sẽ tạo cú hích mới. Nghị quyết khẳng định: văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững. Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, song nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế, chính sách đột phá là chìa khóa để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Mục tiêu được đặt ra không chỉ dừng ở việc cơ bản hoàn thành tu bổ các di tích quốc gia đặc biệt, phục hồi di sản phi vật thể có nguy cơ mai một, mà còn hướng tới phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp văn hóa. Việc hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, các cụm, khu công nghiệp văn hóa tầm cỡ quốc tế trên nền tảng công nghệ cao được xem là hướng đi chiến lược.
Nếu được triển khai đồng bộ, những định hướng này có thể mở ra cơ hội hồi sinh cho nhiều di tích đang trong tình trạng “mong manh”. Khi di sản được nhìn nhận không chỉ là ký ức cần bảo vệ mà còn là nguồn lực cho phát triển, Hà Nội có thể biến thách thức thành động lực, trả lại cho quá khứ vị thế xứng đáng trong tương lai.
Giữa dòng chảy hiện đại hóa, câu hỏi “Tương lai nào cho quá khứ?” vì thế không còn là một nỗi băn khoăn, mà trở thành lời thúc giục hành động để di tích không chỉ tồn tại, mà thực sự sống, lan tỏa và góp phần định hình bản sắc của Thủ đô trong thời kỳ mới.
Cả nước chào năm mới Bính Ngọ 2026
(Sóng trẻ) - Đêm 29 Tết (16/2), không khí hân hoan lan tỏa khắp cả nước khi hàng triệu người dân đổ ra đường, hòa mình vào những màn pháo hoa rực sáng và các chương trình nghệ thuật chào năm mới. Thời khắc chuyển giao không chỉ khép lại năm cũ, mà còn khơ
Phố cà phê đường tàu tấp nập hoạt động trở lại bất chấp lệnh cấm
(Sóng trẻ) - Sau nhiều lần bị giải tỏa và cảnh báo nguy hiểm, phố cà phê đường tàu Khâm Thiên - Lê Duẩn vẫn tấp nập trở lại. Bất chấp biển cấm và yêu cầu dừng hoạt động, hàng quán tiếp tục lấn chiếm sát đường ray, thu hút đông đảo du khách
1200 chỗ ở miễn phí được Đại học Bách Khoa bố trí cho người dân nhân dịp Quốc Khánh 2/9
(Sóng trẻ) - Từ ngày 30/8/ đến hết 3/9, Đại học Bách Khoa Hà Nội bố trí 1200 chỗ ở miễn phí phục vụ người dân từ nhiều nơi đến Thủ Đô để tham dự Lễ diễu binh, diễu hành mừng 80 năm ngày Quốc Khánh 2/9.



-1756651692.png)