Nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, Việt Nam đã đổi thay rất nhiều. Những đô thị mọc lên, những tuyến đường mở rộng, quan hệ hợp tác quốc tế được nối lại và phát triển. Trong bức tranh đi lên ấy, chiến tranh dường như đã lùi xa. Nhưng chỉ cần nhìn kỹ hơn một chút, người ta sẽ thấy dưới lớp bụi của quá khứ vẫn còn những vết thương chưa lành.

Chất độc da cam là một trong những vết thương như thế. Nó không chỉ là câu chuyện của lịch sử, càng không chỉ là ký ức của một thế hệ từng đi qua chiến tranh. Nó là câu chuyện hiện hữu trong đời sống hôm nay, khi vẫn còn những đứa trẻ sinh ra với dị tật, những gia đình phải gánh chịu bệnh tật triền miên, những con người sống cả đời trong mặc cảm và thiếu thốn chỉ vì hậu quả của một cuộc chiến mà họ không lựa chọn.

Hình ảnh các nạn nhân Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam/dioxin tại Triển lãm Roland Schmid, nhân dịp kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất. (Ảnh: Vietnam News)
Hình ảnh các nạn nhân Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam/dioxin tại Triển lãm Roland Schmid, nhân dịp kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất. (Ảnh: Vietnam News)

Điều khiến chất độc da cam trở thành nỗi ám ảnh dai dẳng không chỉ nằm ở mức độ tàn phá, mà còn ở cách nó len lỏi qua thời gian. Bom đạn có thể cướp đi mạng sống trong khoảnh khắc, còn dioxin âm thầm tồn tại trong đất, trong nước, trong cơ thể người. Nó không chỉ làm tổn thương một thế hệ, mà còn có thể để lại di chứng cho con cháu họ. Sự tàn nhẫn của chiến tranh vì thế không dừng ở chiến trường, mà tiếp tục kéo dài trong đời sống thường nhật của những người sinh ra sau chiến tranh rất lâu.

Các phi vụ phun rải chất diệt cỏ từ trên không tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965-1971. Ảnh do Lục quân Mỹ cung cấp, năm 2011.
Các phi vụ phun rải chất diệt cỏ từ trên không tại miền Nam Việt Nam giai đoạn 1965-1971. Ảnh do Lục quân Mỹ cung cấp, năm 2011.

Với nhiều người Việt Nam, chất độc da cam không phải điều gì xa lạ. Đó là những thùng quyên góp cho nạn nhân chất độc màu da cam từng xuất hiện ở nhiều nơi, là những câu chuyện về người quen, hàng xóm, thầy cô, cựu chiến binh hay con cháu của họ mang trên mình dị tật hoặc bệnh tật khó gọi tên. Nỗi đau ấy không chỉ tồn tại trong thống kê hay triển lãm ảnh. Nó sống trong từng mái nhà nghèo, trong những bữa cơm chắt chiu, trong hành trình chữa bệnh dài dằng dặc mà nhiều gia đình không đủ khả năng theo đến cùng.

Bi kịch lớn nhất của nạn nhân chất độc da cam là họ vừa phải chống chọi với tổn thương thể chất, vừa phải học cách sống chung với sự thiệt thòi. Có người mất khả năng lao động, có người mang dị tật bẩm sinh, có người sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình. Khoản trợ cấp, dù có ý nghĩa, vẫn khó bù đắp những mất mát mà họ phải gánh chịu suốt đời. Đằng sau những con số hỗ trợ là một thực tế xót xa: con người buộc phải chứng minh mức độ tổn thương của mình để được thừa nhận và hỗ trợ. Không phải ai cũng có cơ hội tiếp cận y tế đầy đủ, càng không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện để chăm sóc một người bệnh suốt hàng chục năm.

Từ đó, câu hỏi về trách nhiệm trở nên không thể né tránh. Ai phải chịu trách nhiệm cho những cơ thể khiếm khuyết, cho những cuộc đời bị tước mất cơ hội phát triển bình thường, cho những vùng đất bị đầu độc? Khi các bằng chứng khoa học ngày càng chỉ ra mối liên hệ giữa dioxin và các rối loạn phát triển, vấn đề không còn dừng ở tranh cãi lịch sử, mà là nghĩa vụ đạo lý và nhân đạo đối với những nạn nhân đang sống.

Hình ảnh cặp song sinh dính liền Việt - Đức, nạn nhân chất độc da cam, được trưng bày tại triển lãm “Thảm họa da cam/dioxin - 60 năm nhìn lại” do Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam tổ chức. (Ảnh: BTC)
Hình ảnh cặp song sinh dính liền Việt - Đức, nạn nhân chất độc da cam, được trưng bày tại triển lãm “Thảm họa da cam/dioxin - 60 năm nhìn lại” do Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam tổ chức. (Ảnh: BTC)

Trong nhiều năm qua, nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ đã đạt được một số bước tiến. Việc hợp tác xử lý ô nhiễm dioxin, rà phá bom mìn, hỗ trợ người khuyết tật ở vùng bị ảnh hưởng là những động thái tích cực. Chúng cho thấy một cuộc chiến có thể khép lại bằng đối thoại và hợp tác thay vì thù hận. Nhưng những tiến triển ấy sẽ mất đi nhiều ý nghĩa nếu các cam kết bị gián đoạn, đặc biệt vào lúc nhu cầu hỗ trợ vẫn còn rất lớn.

Trực thăng quân đội Mỹ phun rải chất độc da cam tại Việt Nam. Ảnh do Lục quân Mỹ cung cấp.
Trực thăng quân đội Mỹ phun rải chất độc da cam tại Việt Nam. Ảnh do Lục quân Mỹ cung cấp.

Khi nguồn lực dành cho khắc phục hậu quả chiến tranh đứng trước nguy cơ bị cắt giảm hoặc đình trệ, điều bị ảnh hưởng trước tiên không phải là những văn kiện ngoại giao, mà là đời sống của con người. Đó có thể là một khu vực ô nhiễm chậm được xử lý, một gia đình mất đi khoản hỗ trợ y tế, một chương trình giáo dục phòng tránh bom mìn bị ngưng lại. Nói cách khác, sự chậm trễ về chính sách sẽ chuyển hóa thành bất an, bệnh tật và rủi ro trong đời sống hằng ngày.

Choi, 19 tuổi, sinh ra với dị tật cột sống nghiêm trọng và bệnh tim bẩm sinh. Em đã được đưa tới thủ đô Viêng Chăn, Lào để thăm khám, chẩn đoán và phẫu thuật tim. (Ảnh: New York Times)
Choi, 19 tuổi, sinh ra với dị tật cột sống nghiêm trọng và bệnh tim bẩm sinh. Em đã được đưa tới thủ đô Viêng Chăn, Lào để thăm khám, chẩn đoán và phẫu thuật tim. (Ảnh: New York Times)

Ở đây, cần nhìn nhận rõ rằng việc khắc phục hậu quả chiến tranh không nên bị xem là hành động thiện chí đơn thuần, càng không thể bị đặt hoàn toàn trong logic viện trợ có thì làm, không thì thôi. Với những gì đã xảy ra, đó trước hết phải là một phần trách nhiệm. Trách nhiệm ấy không xóa được đau thương, nhưng ít nhất có thể giúp giảm bớt gánh nặng cho những người vốn đã chịu quá nhiều thiệt thòi.

Dĩ nhiên, trách nhiệm không chỉ thuộc về phía gây ra hậu quả. Nhà nước, các tổ chức xã hội và cộng đồng cũng cần tiếp tục đồng hành với nạn nhân bằng những chính sách thiết thực hơn: nâng cao chất lượng chăm sóc y tế, cải thiện mức sống, tăng khả năng tiếp cận giáo dục và việc làm cho người khuyết tật, đồng thời mở rộng hỗ trợ đối với con cháu những gia đình bị ảnh hưởng nặng nề. Một xã hội văn minh không chỉ được đo bằng tốc độ phát triển, mà còn ở cách xã hội ấy đối xử với những người yếu thế nhất.

Bà Diễm, một nạn nhân chịu di chứng của chất độc da cam, hiện sống cùng cha mẹ. Cha bà từng phơi nhiễm chất độc da cam trong chiến tranh. (Ảnh: New York Times)
Bà Diễm, một nạn nhân chịu di chứng của chất độc da cam, hiện sống cùng cha mẹ. Cha bà từng phơi nhiễm chất độc da cam trong chiến tranh. (Ảnh: New York Times)

Nhưng sự sẻ chia trong nước, dù đáng quý đến đâu, cũng không thể là cái cớ để trách nhiệm quốc tế bị làm mờ. Chúng ta có thể quyên góp, hỗ trợ, cưu mang nhau, nhưng không thể vì thế mà quên đi nguồn gốc của thảm kịch. Gọi đúng tên trách nhiệm không phải để nuôi dưỡng hận thù, mà để bảo vệ công lý lịch sử và để bảo đảm rằng những nỗi đau tương tự không bị lặp lại hay bị lãng quên.

Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là chiến tranh từng tàn khốc đến đâu, mà là sau ngần ấy năm, vẫn còn những con người phải tiếp tục trả giá cho nó. Khi một đứa trẻ sinh ra với dị tật, khi một người mẹ nghèo không có tiền chữa bệnh cho con, khi một vùng đất vẫn cần được làm sạch, chiến tranh khi ấy chưa thực sự kết thúc.

Năm mươi năm sau thống nhất, Việt Nam có quyền tự hào về hành trình đi lên của mình. Nhưng cùng với niềm tự hào ấy, ký ức về chất độc da cam vẫn nhắc chúng ta rằng hòa bình không chỉ là không còn tiếng súng. Hòa bình còn là khi những di chứng chiến tranh được nhìn nhận đầy đủ, khi nạn nhân được đối xử công bằng hơn, khi trách nhiệm được gọi tên và thực hiện đến cùng.

Bởi suy cho cùng, điều mà các nạn nhân chất độc da cam cần không chỉ là lòng thương hại. Điều họ cần là sự công nhận, sự hỗ trợ bền bỉ và một câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi đã day dứt suốt nhiều thập niên: ai sẽ trả phần giá còn lại của chiến tranh?

Đừng bỏ lỡ
Cả nước chào năm mới Bính Ngọ 2026

Cả nước chào năm mới Bính Ngọ 2026

Tin nổi bật1 tháng trước

(Sóng trẻ) - Đêm 29 Tết (16/2), không khí hân hoan lan tỏa khắp cả nước khi hàng triệu người dân đổ ra đường, hòa mình vào những màn pháo hoa rực sáng và các chương trình nghệ thuật chào năm mới. Thời khắc chuyển giao không chỉ khép lại năm cũ, mà còn khơ

Phố cà phê đường tàu tấp nập hoạt động trở lại bất chấp lệnh cấm

Phố cà phê đường tàu tấp nập hoạt động trở lại bất chấp lệnh cấm

Tin nổi bật3 tháng trước

(Sóng trẻ) - Sau nhiều lần bị giải tỏa và cảnh báo nguy hiểm, phố cà phê đường tàu Khâm Thiên - Lê Duẩn vẫn tấp nập trở lại. Bất chấp biển cấm và yêu cầu dừng hoạt động, hàng quán tiếp tục lấn chiếm sát đường ray, thu hút đông đảo du khách

1200 chỗ ở miễn phí được Đại học Bách Khoa bố trí cho người dân nhân dịp Quốc Khánh 2/9 

1200 chỗ ở miễn phí được Đại học Bách Khoa bố trí cho người dân nhân dịp Quốc Khánh 2/9 

Tin nổi bật7 tháng trước

(Sóng trẻ) - Từ ngày 30/8/ đến hết 3/9, Đại học Bách Khoa Hà Nội bố trí 1200 chỗ ở miễn phí phục vụ người dân từ nhiều nơi đến Thủ Đô để tham dự Lễ diễu binh, diễu hành mừng 80 năm ngày Quốc Khánh 2/9. 

XEM THÊM TIN