(Sóng trẻ) - Trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, biết bao trái tim quả cảm đã đưa từng đoàn xe vượt đèo, băng suối, tiếp viện cho tiền tuyến. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức của người lính năm xưa vẫn vẹn nguyên, ghi dấu một thời hoa lửa.
Năm 1972, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn cam go và khốc liệt nhất, 18.749 thanh niên, nam nữ tỉnh Lào Cai đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Ở tuổi mười tám, đôi mươi, họ sẵn sàng gác lại những bình yên thường nhật, mang theo nhựa sống của tuổi trẻ dấn thân vào bom rơi đạn lạc để chi viện cho miền Nam ruột thịt.


Tháng 4/1972, gác lại công việc lương thực tại huyện Văn Bàn, ông Nguyễn Đình Sỹ viết đơn tình nguyện nhập ngũ, rời quê hương lên Lạng Sơn học lái xe vận tải. Những bước chân hành quân đầu đời cứ thế lầm lũi tiến về phía trước theo lệnh của đoàn dẫn đường. Sau này ông mới hay, đó là chuyến đi tăng cường cho chiến dịch Quảng Trị tháng 6/1972 trước khi quay ra rồi tiến thẳng vào miền hỏa tuyến.
Kết thúc đợt tăng cường tháng 6/1972, ông hành quân về Quảng Bình, sáp nhập vào Ban Xăng dầu thuộc Phòng Hậu cần, Sư đoàn 377. Giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 11/1972 đánh dấu những ngày đêm đối mặt với cường độ đánh phá dữ dội của không quân địch. Trong lửa đạn, người lính vận tải đã góp phần duy trì mạch máu giao thông cho cuộc chiến 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.
Trong giai đoạn 1973-1975, ông Sỹ nhận nhiệm vụ vận tải trên tuyến đường từ Khe Sanh (B5) ra Đông Hà. Cung đường dài 80km là lộ trình tiếp vận liên tục. Sáng ra nhận hàng, đêm ngủ tại Đông Hà để hôm sau ngược vào chiến khu. Có những chuyến hàng đặc biệt tiến sâu vào đèo Lò Xo, người lái xe độc hành suốt cả tuần lễ mới có thể quay về đơn vị hội quân.

Ông Sỹ kể lại: “Tiểu đội mười mấy người nhưng hàng tháng trời chẳng mấy khi được ngồi ăn chung một bữa cơm. Đặc thù công việc khiến chúng tôi cứ lỗi nhịp, người này về thì người kia lại đi. Những vòng bánh xe quay đều trong bụi đỏ Trường Sơn là sợi dây liên kết duy nhất giữa những người đồng đội chưa kịp nhớ mặt, biết tên”.
Người chiến sĩ nhớ lại thời đó bom đánh ác liệt, nhất là những trận rải thảm. Mỗi lần từng tốp máy bay lao vào, thả bom theo loạt, cứ vài trăm mét lại dội xuống một dải nổ dồn dập. Mở đầu là bom phát quang, tiếp đến bom khoan phá tung hầm hố, rồi bom bi rải kín cả khu vực. “Có lần tôi đang lái xe thì bom tọa độ trút xuống ngay sát bên. Sợ thì có sợ, nhưng không đi cũng đồng nghĩa với cái chết. Khi ấy bom nổ suốt ngày đêm nhưng xe vẫn phải lăn bánh, vì dừng lại là chiến trường thiếu xăng dầu tiếp tế”, ông Sỹ chia sẻ.
Khi một xe trong đoàn bị trúng bom hỏng hóc, công binh và thanh niên xung phong phải lập tức xử lý, cái gì lấy được thì lấy rồi đẩy xe hỏng xuống vực ngay để đoàn sau kịp đi tiếp. Nếu dừng lại cả đoàn sẽ kẹt lại dưới tầm oanh tạc và tất cả sẽ cùng hy sinh. Thiệt hại là nhiều vô kể trên những hành trình kéo dài hàng tháng trời dưới làn mưa bom, nơi mà điều kiện y tế đôi khi chỉ có... nước sôi để sát trùng vết thương.
Ông Sỹ vẫn không thể quên lần trú bom B-52 trong hầm chữ A. Ông kể: “Có lần B-52 rải thảm, tôi với ba anh nữa chạy xuống hầm chữ A ở Khe Sanh mà trú. Bom nổ ngay sát bên, đến lúc khói tan, mấy anh em chui ra thì mới biết một người đã nằm lại ngay trong hầm. Một mảnh bom ghim thẳng vào gáy, anh đi mà chẳng kịp nói lời cuối. Khổ thế, lúc ở trong hầm tối đặc quánh thêm tiếng bom nên không ai biết gì cả. Bước ra ngoài rồi mới thấy đồng đội đã hy sinh từ lúc nào”.

Năm 1972, cựu chiến binh Bùi Xuân Trường xung phong nhập ngũ dù chưa đủ tuổi. Sau khóa đào tạo lái xe tại Thái Nguyên, ông chính thức bắt đầu hành trình mười năm ba tháng quân ngũ dọc dãy Trường Sơn. Nhiệm vụ của ông là cầm lái những chiếc xe tải hạng nặng, kéo theo hỏa lực chiếm lĩnh các trận địa từ Bắc vào Nam.

Hành trình xuyên sơn chủ yếu diễn ra vào ban đêm để tránh sự phát hiện của máy bay trinh sát. Toàn bộ đoàn xe phải bịt đèn pha, chỉ để lại một đốm sáng mờ bằng cái chén gắn dưới gầm xe, soi sát mặt đất cho người lái căn đường núi.“Tất cả phải bịt đèn lại, không ai được bật đèn... Cứ thế đi đường núi. Đi từ 6 giờ tối đến 5 giờ sáng thì dừng”, ông Trường nhớ lại.
Ký ức về những đêm vượt phà Long Đại hay phà Lệ Thủy với ông là hình ảnh những tốp thanh niên xung phong mở đường. Trong bóng tối đặc quánh của đại ngàn, họ trở thành “cọc tiêu sống” dẫn lối cho những chuyến xe kéo pháo vượt qua các đoạn ngầm, bến phà hiểm trở. Ông mường tượng “Các bạn ấy quàng khăn trắng ở cổ, tay cũng cầm một cái khăn. Mình cứ bám theo cái khăn trắng mà đi”.
Từ tháng 1 năm 1975, nhiệm vụ kéo pháo phục vụ chiến dịch Buôn Ma Thuột bắt đầu được triển khai trong sự bảo mật tuyệt đối. Suốt bốn tháng ròng, quân ta liên tục phát tín hiệu giả để đánh lừa tình báo Mỹ và chính quyền Sài Gòn về hướng tấn công tại Pleiku và Kon Tum. Mục tiêu là tạo sự bất ngờ tại cửa ngõ chiến lược Tây Nguyên, nơi được coi là điểm then chốt mà nếu mất đi, toàn bộ cục diện sẽ sụp đổ.
Tại chiến trường Tây Nguyên, việc đưa hỏa lực vào trận địa được thực hiện theo những thông số kỹ thuật khắt khe nhằm bảo toàn lực lượng. Theo mệnh lệnh, xe của ông phải giữ khoảng cách từ 20 đến 25 km so với mục tiêu, sau khi hoàn tất việc triển khai pháo thì nhanh chóng rút về nơi tập kết bí mật. Ông nhớ lại: “Khẩu pháo của xe bác kéo là được phép đứng cách đó từ 20 đến 25 km... Kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa xong rồi lại rút về”.
Đúng 2 giờ sáng ngày 10/3/1975, tiếng pháo bắt đầu gầm vang, rung chuyển các vị trí then chốt của quân địch tại Buôn Ma Thuột. Chỉ sau 32 tiếng chiến đấu hiệp đồng, thành phố được giải phóng hoàn toàn, khiến hệ thống phòng thủ của tướng Phạm Văn Phú tan rã và phải rút chạy.

Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết sẹo vẫn còn hằn sâu trong lòng đất và trong ký ức người lính Trường Sơn. Trở về với cuộc sống đời thường, ký ức về đồng đội và chiến tranh vẫn luôn sống mãi trong tim họ. Mảnh bom vẫn nằm lại nơi bả vai của ông Sỹ hay tiếng gọi vội chào nhau giữa ông Trường và người lính đồng hương trên đường hành quân mãi nhắc nhớ về một thời hoa lửa.
“Ngày trước ban liên lạc của đơn vị có 21 người, gồm cả lái xe với pháo thủ, nhưng đến giờ chỉ còn lại 2 người thôi. Những người còn lại phần lớn mất vì bệnh tật, hậu quả chiến tranh để lại.” - Ông Dương Đình Sỹ chia sẻ
Giờ đây, trở về với đời thường tại xã Văn Bàn, hai ông đều làm công tác xã hội tại địa phương. Vẫn giữ thói quen gặp gỡ, tham gia hội cựu chiến binh để tâm sự, động viên nhau.
Hai cuộc đời, hai hành trình khác nhau nhưng cùng chung một “mạch máu” Trường Sơn huyền thoại. Với những người mở đường, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước tại “tuyến lửa” như ông Sỹ, ông Trường và hàng nghìn người lính khác, mỗi cung đường, mỗi cây cỏ đều nhuộm đỏ xương máu của biết bao anh hùng, liệt sĩ. Nhiều đồng đội của họ nằm xuống khi tuổi đời mới mười tám, đôi mươi, để làm nên con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại.

Cả nước chào năm mới Bính Ngọ 2026
(Sóng trẻ) - Đêm 29 Tết (16/2), không khí hân hoan lan tỏa khắp cả nước khi hàng triệu người dân đổ ra đường, hòa mình vào những màn pháo hoa rực sáng và các chương trình nghệ thuật chào năm mới. Thời khắc chuyển giao không chỉ khép lại năm cũ, mà còn khơ
Phố cà phê đường tàu tấp nập hoạt động trở lại bất chấp lệnh cấm
(Sóng trẻ) - Sau nhiều lần bị giải tỏa và cảnh báo nguy hiểm, phố cà phê đường tàu Khâm Thiên - Lê Duẩn vẫn tấp nập trở lại. Bất chấp biển cấm và yêu cầu dừng hoạt động, hàng quán tiếp tục lấn chiếm sát đường ray, thu hút đông đảo du khách
1200 chỗ ở miễn phí được Đại học Bách Khoa bố trí cho người dân nhân dịp Quốc Khánh 2/9
(Sóng trẻ) - Từ ngày 30/8/ đến hết 3/9, Đại học Bách Khoa Hà Nội bố trí 1200 chỗ ở miễn phí phục vụ người dân từ nhiều nơi đến Thủ Đô để tham dự Lễ diễu binh, diễu hành mừng 80 năm ngày Quốc Khánh 2/9.



-1756651692.png)