‘Đường mòn’ trên biển trong ký ức của Thuyền phó Đoàn tàu không số
(Sóng trẻ) - Có mặt trên “tàu không số” từ năm 1964, cựu chiến binh Nguyễn Đình Quốc đã nếm trải tất cả gian truân, hiểm nguy trong hành trình chi viện cho miền Nam ruột thịt. Những ký ức ấy đến nay vẫn vẹn nguyên trong tâm trí ông.
Ký ức bi hùng nơi trùng khơi
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với con đường vận tải dọc Trường Sơn, Bộ chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định mở đường vận chuyển chiến lược trên biển Đông gắn liền với những “Đoàn tàu Không số” huyền thoại. Không hải đồ, không có thiết bị định vị hiện đại, thế nhưng, tàu không số đã hoàn thành nhiệm vụ chuyên chở vũ khí, lương thực cho chiến trường miền Nam, trở thành biểu tượng của lòng quả cảm, ý chí quật cường và sức sáng tạo không giới hạn của người lính hải quân Việt Nam.
Hành trình dấn thân vào những hải trình “không số” của cựu chiến binh Nguyễn Đình Quốc bắt đầu bằng tinh thần nhiệt huyết của thế hệ “Ba sẵn sàng”. Tháng 2/1962, ở tuổi 23, khi đang là một cán bộ Tỉnh đoàn năng nổ và vinh dự được trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba, ông chính thức lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện tân binh tại Đồ Sơn, đến tháng 2/1964, bước ngoặt lớn trong đời binh nghiệp của người lính quê Nam Định mở ra khi ông được điều động về Đoàn 125.
Tại đây, ông cùng khoảng 100 đồng chí bước vào một khóa huấn luyện đặc biệt với chế độ bảo mật tuyệt đối. Tháng 7/1964, khi trực tiếp tiếp cận tàu huấn luyện, sứ mệnh vượt biển Đông mới dần hiện hữu. Nhớ lại những ngày đầu, ông Quốc tâm sự rằng bản thân khi ấy chưa từng có kinh nghiệm trong việc cầm lái, nhưng chính phẩm chất và bản lĩnh của một người đảng viên đã giúp ông sẵn sàng dấn thân nhận lấy trọng trách mà đơn vị giao phó.
Trong biên chế của tàu 69, con tàu vốn đã dạn dày kinh nghiệm qua nhiều chuyến hành quân trên biển, ông đã cùng đồng đội thực hiện thành công hai chuyến vận chuyển vũ khí quan trọng cập bến Cà Mau và Trà Vinh. Sau đó, ông được cử đi học sĩ quan.
Trong ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Đình Quốc, để đảm bảo tuyệt đối an toàn ở các chuyến đi và không để tàu rơi vào tay địch, người chiến sĩ hải quân luôn phải nhanh chóng có phương án ứng phó. “Đơn vị đã cài đặt trên mỗi con tàu, 3 khối bộc phá, mỗi khối bộc phá độ 100 kg thuốc nổ, để trong trường hợp khi gặp địch và xảy ra chiến đấu, kiên quyết phá hủy tàu và không để tàu rơi vào tay địch”, ông Quốc nhớ lại.
Thực tế, việc đưa hàng chi viện vào miền Nam trở nên khó khăn hơn hẳn sau sự kiện Vũng Rô xảy ra vào tháng 5/1965. Thống kê trong giai đoạn từ tháng 5/1965 đến tháng 2/1972, đã có 11 con tàu không số gặp địch và phải chiến đấu. Đáng chú ý là vào năm 1965, một số tàu đã phải nổ bộc phá tự hủy khiến 18 cán bộ, chiến sĩ hy sinh.
Chính vì đối diện với lằn ranh sinh tử cận kề, những “lễ truy điệu sống” trước giờ nhổ neo đã trở thành một phần tất yếu trong đời lính tàu không số lúc bấy giờ. Với ông Quốc, mỗi chuyến đi là một kịch bản khác nhau với những tình huống biến hóa khôn lường. Có những hải trình thuận lợi, đưa vũ khí cập thẳng bến bãi miền Nam an toàn. Tuy nhiên, cũng không ít lần tàu phải lênh đênh nhiều tháng trời, dù đã sát đích đến vẫn buộc phải quay đầu do bị địch phát hiện và phục kích.
Để vượt qua mạng lưới kiểm soát dày đặc, con tàu thường xuyên phải ngụy trang, liên tục "thay hình đổi dạng" nhằm đánh lạc hướng đối phương. Trong những cuộc đối đầu căng thẳng ấy, dù nhiều lần đã chuẩn bị sẵn tâm thế thực hiện phương án bộc phá tự hủy, song nhờ sự mưu trí, ông và đồng đội vẫn thoát hiểm thành công trong gang tấc.
Hải trình định mệnh
Tháng 11/1970, ông Nguyễn Đình Quốc nhận lệnh lên tàu 176, chở theo 75 tấn vũ khí chi viện cho chiến trường Bến Tre. Dù đã ngụy trang khéo léo thành tàu đánh cá, nhưng khi vừa qua hải phận quốc tế tiến vào vùng biển Côn Đảo, con tàu đã rơi vào tầm ngắm của địch. Trên không, trực thăng quần thảo; dưới mặt nước, các biên đội tàu hải quân ngụy bám đuổi gắt gao.
Cuộc đối đầu không cân sức bùng nổ vào đêm 21/11/1970, khi tàu cách bờ khoảng 10 hải lý. Trong khoảng 20 phút giao tranh quyết liệt, dù chỉ được trang bị vũ khí bộ binh, ông Quốc cùng đồng đội vẫn anh dũng bắn trả, thậm chí bắn cháy được một tàu địch.
Tuy nhiên, trước hỏa lực mạnh từ pháo tầm xa và rocket, tàu 176 bị vỡ két dầu, mất khả năng cơ động. Để giữ bí mật đến cùng, thuyền trưởng Ngọc phát lệnh hủy tàu. Giữa khoảnh khắc sinh tử, ông Quốc đã cùng thuyền trưởng bình tĩnh xuống khoang mũi, điểm hỏa các kíp nổ bộc phá đúng theo phương án trước khi rời tàu bơi vào bờ.
Sau gần một ngày lênh đênh trên biển, ông Quốc và đồng đội Nguyễn Duy Hóa bị địch bắt. Ngay trong đêm, chúng đưa ông về Sư đoàn 7 tại Cần Thơ, sau đó là các khu thẩm vấn tại Sài Gòn. Kẻ thù dùng mọi ngón đòn tra tấn dã man đến mua chuộc, ly gián hòng khai thác thông tin, nhưng người chiến sĩ kiên trung vẫn giữ vững sự im lặng. Thất bại trong việc khuất phục ý chí của ông, quân địch đưa ông ra giam giữ tại nhà tù Phú Quốc. Tháng 3/1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông Nguyễn Đình Quốc chính thức được trao trả tự do.
Người lái "chuyến tàu ký ức" giữa đời thường
Trở về địa phương, ông Nguyễn Đình Quốc tiếp tục cống hiến tại Tỉnh đoàn Nam Định, sau đó, kinh qua nhiều vị trí công tác khác cho đến lúc nghỉ hưu. Thế nhưng, thay vì chọn sự an nhàn, từ năm 2014 đến nay, người cựu binh tàu không số lại bắt đầu một hành trình mới. Đều đặn mỗi ngày, ông tự đón xe buýt từ Linh Đàm (phường Hoàng Mai), đi quãng đường 30 km đến Bảo tàng Chiến sĩ Cách mạng bị địch bắt tù đày trong vai trò “thuyết minh viên”.
Trong không gian đầy ắp kỷ vật, ông Quốc hiện là một trong bốn nhân chứng cuối cùng còn đủ sức khỏe để trực tiếp đón khách tham quan. Dù không qua trường lớp đào tạo thuyết minh, ông vẫn tự mày mò “học lỏm” nghiệp vụ, nghiên cứu thêm tư liệu ở các bảo tàng khác và luôn cập nhật tin tức thời sự để câu chuyện kể thêm sinh động.
Nói về cơ duyên gắn bó suốt 12 năm qua, người lính già tâm sự chân thành: “Trước đây có nhiều anh em cùng làm, nhưng giờ tuổi cao sức yếu nên mọi người đã nghỉ cả. Tôi thấy mình may mắn vì có ‘điều kiện’ hơn, còn đủ minh mẫn, đủ sức khỏe để đi lại. Vậy nên còn khả năng thì tôi vẫn cứ tiếp tục cố gắng truyền tải để các thế hệ, nhất là các cháu học sinh, sinh viên hiểu được sự hy sinh của cha ông”.
Với ông, mỗi buổi đón khách không đơn thuần là giới thiệu hiện vật, mà là sự hồi tưởng từ chính trải nghiệm của một “người trong cuộc”. Những trang sử khốc liệt được ông chuyển tải một cách dung dị, ấm áp. Nhìn vào thế hệ trẻ, ông Quốc không giấu được vẻ tự hào và kỳ vọng:“Đất nước ta đã phải chịu đựng những hy sinh không thể lường hết được. Mong các cháu tiếp tục học tập, rèn luyện để sau này xây dựng đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Bác dạy. Đây cũng là mong ước lớn nhất của các ông khi xây dựng bảo tàng này”.


-1756651692.png)