Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026: Chênh lệnh cán cân môn thi tự chọn
(Sóng trẻ) - Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 tiếp tục với áp dụng hình thức hai môn bắt buộc Toán và Ngữ Văn cùng hai môn thí sinh tự chọn. Sự chênh lệch số lượng thí sinh đăng ký giữa các môn đặt ra vấn đề về tính cân bằng trong định hướng giáo dục phổ thông hiện nay.
Theo thống kê từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, có hơn 1,22 triệu thí sinh đăng ký thi tốt nghiệp THPT 2026. Con số này phản ánh mức tăng kỷ lục so với hơn 1,1 triệu thí sinh tham gia kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025. Trong đó, có 1.204.180 thí sinh dự thi môn Toán, 1.208.356 thí sinh dự thi môn Ngữ văn. Bên cạnh hai môn thi bắt buộc, thí sinh sẽ lựa chọn hai môn trong số các môn học ở lớp 12 từ các môn Ngoại ngữ, Lịch sử, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý, Giáo dục Kinh tế và Pháp luật (GD Kinh tế & Pháp luật), Tin học, Công nghệ.
Môn hút thí sinh, môn vắng bóng
Nhìn chung, số lượng thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT năm 2026 tăng ở hầu hết các môn. Đặc biệt là Lịch sử, Vật lý và các môn Công nghệ, trong khi một số môn như Địa lí, Ngoại ngữ có xu hướng giảm.
Lịch sử là tiếp tục trở thành môn thi tự chọn có số lượng đăng ký cao nhất trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 với 570.800 thí sinh. So với năm 2025 là 499.357 thí sinh, số lượng đăng ký đã tăng thêm 71.443 thí sinh, tương đương mức tăng khoảng 14,3%.
Ngược lại, Công nghệ Công nghiệp là môn thi có số lượng thí sinh đăng ký thấp nhất trong nhóm môn tự chọn năm 2026, với 7.402 lượt dự thi. Dù ghi nhận mức tăng so với năm 2025: 4.974 thí sinh, song quy mô lựa chọn vẫn ở mức rất nhỏ so với các môn khác.
Như vậy, số lượng thí sinh đăng ký dự thi môn Lịch sử cao gấp khoảng 77 lần so với Công nghệ Công nghiệp. Khoảng cách này phản ánh “cán cân” chênh lệch mạnh trong việc lựa chọn môn thi: trong khi một số môn có sức hút cao, nhiều môn khác còn ở mức rất thấp.
Tác động từ xét tuyển tổ hợp
Sự chênh lệch trong số lượng đăng ký thi trước hết xuất phát từ áp lực xét tuyển đại học theo tổ hợp. Thí sinh có xu hướng lựa chọn môn thi nằm trong các tổ hợp phổ biến để mở rộng cơ hội trúng tuyển. Do đó, việc đăng ký thi môn tự chọn ngày càng mang tính chiến lược hơn là theo sở thích.
Em Nguyễn Tiến Nam (18 tuổi, THPT Thọ Xuân, Hà Nội) chia sẻ: “Em lựa chọn thi Tiếng Anh và Vật lý. Với hai môn này, cùng với Toán, em có thể xét tuyển bằng khối A01 - khối thi có nhiều lợi thế trong các ngành kỹ thuật, điện tử mà bản thân yêu thích”. Bên cạnh đó, nhờ kiến thức từ Tiếng Anh, Nam cũng có thể mở rộng cơ hội đỗ đại học bằng cách thử sức ở các kỳ thi đánh giá năng lực.
Ngoài ra, đó là còn là tác động từ tâm lý chọn môn thi an toàn. Những môn thi được cho là “dễ lấy điểm” như Lịch sử, Địa lý, GD Kinh tế & Pháp luật… thường có số lượng đăng ký cao áp đảo so với những môn yêu cầu tư duy logic cùng nhiều kỹ năng xử lý như Vật lý, Hoá học, Sinh học…
Theo học khối Xã hội từ khi vào lớp 10, Nguyễn Trần Bá Toàn (18 tuổi, THPT Đan Phượng, Hà Nội) xác định tổ hợp thi C00 từ sớm: “Em chọn Lịch sử và Địa lý vì đây vừa là hai môn thế mạnh, vừa khá dễ lấy điểm”. Tuy nhiên, Toàn cũng bày tỏ sự lo lắng khi số lượng đăng ký tăng, dẫn đến đề thi khó, điểm chuẩn cao.
Hệ luỵ từ chênh lệch môn thi tự chọn
Trong khi số lượng thí sinh đăng ký dự thi các môn thuộc nhóm Khoa học Xã hội cao áp đảo, số liệu này với các môn thi thuộc nhóm Khoa học Tự nhiên lại ở chiều đối lập. Lịch sử và Địa lý dẫn đầu trong bảng thống kê. Ngược lại, các môn tự nhiên như: Vật lý, Hoá học, Sinh học… dù có xu hướng tăng nhưng vẫn có khoảng cách xa so với các môn xã hội.
Theo cô Phan Thị Thu Hà (giáo viên Địa lý trường THPT Đan Phượng), sự chênh lệch trong lựa chọn môn thi không chỉ ảnh hưởng đến học sinh mà còn tác động trực tiếp đến công tác tổ chức dạy học trong nhà trường. Những môn có ít học sinh đăng ký thường khó duy trì số lượng lớp ổn định, dẫn đến việc sắp xếp thời khóa biểu, phân công giáo viên và tổ chức ôn tập gặp nhiều khó khăn.
Cô cho rằng, giáo dục không chỉ hướng đến việc giúp học sinh thi cử thuận lợi mà còn cần phát triển đồng đều năng lực tư duy logic, khoa học tự nhiên, kỹ năng xã hội và khả năng thích ứng đa lĩnh vực. “Nếu học sinh quá thiên lệch về một nhóm môn, các em có thể bị hạn chế ở một số năng lực nền tảng cần thiết trong tương lai”, cô Hà chia sẻ thêm.
Để khắc phục tình trạng trên, cô Thu Hà cho biết, nhiều cơ sở giáo dục hiện đang đổi mới phương pháp dạy học ở các môn Khoa học Tự nhiên theo hướng trực quan, tăng cường các trải nghiệm thực hành và gắn với thực tế. Đồng thời, các hoạt động STEM (Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học), nghiên cứu khoa học và tư vấn hướng nghiệp cũng được đẩy mạnh để học sinh hiểu rõ giá trị của từng nhóm môn học và có lựa chọn phù hợp với năng lực bản thân.
Sự chênh lệch trong lựa chọn môn thi tự chọn tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác tổ chức dạy học và định hướng nghề nghiệp trong giáo dục phổ thông. Trong bối cảnh kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 đang đến gần, việc cân bằng giữa nhu cầu xét tuyển và định hướng phát triển toàn diện vẫn là bài toán cần tiếp tục được giải quyết trong thời gian tới.

