Vang vọng ký ức người lính thời chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc
(Sóng trẻ) - Trong ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Minh Văn (Hải Hậu, Ninh Bình), kỷ niệm về năm tháng gắn bó với miền Trung Tổ quốc vẫn để lại dư âm - là những khoảnh khắc đáng nhớ đan xen giữa gian lao, mất mát và nghĩa tình sâu nặng.
Ông Nguyễn Minh Văn, một cựu chiến binh từng thuộc lực lượng công an vũ trang Gia Lai - Kon Tum đã sống và chiến đấu trong chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia (1978 - 1979). Với người lính đã đi qua chiến tranh, ký ức về những trận mưa bom bão đạn trên mảnh đất Tây Nam vẫn vẹn nguyên - nơi khói lửa từng phủ kín bầu trời, để lại bi thương và mất mát.
Ký ức về những ngày đầu trung chuyển tới vùng địa biên giới
Trong giai đoạn đất nước chưa thống nhất, chiến tranh vẫn diễn ra ác liệt, lực lượng công an vũ trang tại các tỉnh biên giới phải đối mặt với muôn vàn khó khăn về trang bị và hậu cần. Hỏa lực khiêm tốn, chủ yếu là cối 60mm cùng các loại súng B40, B41 khiến khả năng tác chiến bị hạn chế đáng kể trước những tình huống phức tạp.
Không chỉ thiếu thốn về vũ khí, điều kiện sinh hoạt và chăm sóc y tế cũng vô cùng gian nan. Nhiều cán bộ, chiến sĩ mắc sốt rét nhưng không có đủ thuốc điều trị dẫn đến những di chứng nặng nề. Trong hoàn cảnh ấy, họ buộc phải sử dụng tạm các loại thuốc như Quinine do phía Mỹ sản xuất để cầm cự qua cơn bệnh.
“Thời đó đa số sốt rét là nguy hiểm, sức lực yếu, lính đi không vững, phải vịn vì nằm chốt nhiều. Ăn uống, sinh hoạt đều phải ở trong hào. Toàn bộ súng đạn, vỏ đạn cối vất ra để sinh hoạt. Muốn có nước buộc phải xuống nơi có phục, còn nếu không xuống thì không đủ sinh hoạt ăn uống. Nơi có phục thì địch canh bắn, bắn thủng quân mình” ông Văn hồi tưởng về khó khăn nơi biên cương.
Hồi ức về quá trình chuẩn bị lực lượng trước khi bước vào trận tuyến
Trong điều kiện chiến đấu khắc nghiệt tại khu vực biên giới Tây Nam, lực lượng làm nhiệm vụ thường triển khai mai phục ở các vị trí cao hơn những điểm ngầm tràn - nơi dòng nước suối chảy qua và cũng là tuyến đường bắt buộc cho xe cơ giới di chuyển. Lực lượng thanh niên xung phong gia cố tạm bằng cách nhặt đá, nhồi vào rọ dài khoảng 3 mét rồi xếp dưới lòng suối, tạo thành lối vượt cho phương tiện vận tải. Nếu không có những công trình tạm thời này, nước chảy xiết sẽ khoét sâu lòng suối, khiến xe không thể qua lại.
Tuy nhiên, chính những điểm “yết hầu” ấy lại trở thành nơi đối phương thường xuyên mai phục. Địch lợi dụng địa hình hiểm trở, chờ thời cơ khi xe tiếp tế của ta đi qua để kích nổ mìn. Loại mìn được sử dụng phổ biến là ĐH10, nặng khoảng 5kg, thường được cài đặt tại những vị trí trọng yếu mà phương tiện buộc phải đi qua. Trước tình hình đó, quân ta buộc phải bố trí lực lượng chốt giữ, bảo vệ an toàn cho các tuyến hậu cần. Dù chiến tranh đã lùi xa, những dấu tích và hiểm họa từ bom mìn vẫn còn hiện hữu trên mảnh đất biên giới Tây Nam.
Ông Văn chia sẻ: “Tại chiến trường, các cuộc giao tranh bằng hỏa lực lớn không diễn ra thường xuyên. Hình thức phổ biến hơn là chốt giữ và chiến đấu trong hệ thống công sự, hào chiến đấu. Bọn địch chủ yếu du kích, tận dụng địa hình để bò, lẩn, ẩn nấp và tiếp cận mục tiêu. Vì lối đánh đấy, lực lượng ta cũng không ngừng phải điều chỉnh chiến thuật, chủ động tìm ra phương án phù hợp nhằm đối phó và giành thế chủ động trên mặt trận”.
Nếu người lính trực tiếp chiến đấu là lực lượng nòng cốt thì công tác hậu cần lại giữ vai trò thầm lặng nhưng không kém phần quan trọng. Qua lời kể của ông Văn, lực lượng hậu cần đảm nhiệm toàn bộ việc bảo đảm đời sống cho bộ đội: chuẩn bị bữa ăn , dọn dẹp sau cơm, tổ chức nơi ăn, chỗ ở cho các đơn vị hành quân. Họ thường xuyên cắm chốt, nấu ăn từ sáng đến trưa trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ. Thành công trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc không chỉ đến từ lực lượng chiến đấu trực tiếp mà còn là sự đóng góp bền bỉ, thầm lặng của các lực lượng hậu cần, y tế và những đội hình hỗ trợ phía sau.
Trong chiến tranh, lực lượng dần suy kiệt qua từng trận đánh khốc liệt. Một trong những tổn thất nặng nề nhất diễn ra trong trận chiến của Trung đoàn 95. Do vấp phải mìn, 6 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Trong điều kiện chiến đấu ác liệt, khi phương tiện không thể cơ động thì đơn vị buộc phải để lại thi thể đồng đội ở đồn. Giữa chiến khu heo hút, các người lính thay nhau canh gác, thắp hương cho người đã khuất trong 4 đến 5 ngày. Hội trường của đồn khi ấy chỉ là công trình tạm bợ với cột kèo đơn sơ, thiếu thốn vật dụng - làm không gian thêm phần lạnh lẽo.
Lực lượng ta phải cảnh giác trước những loại bom mìn có sức công phá lớn, được gài tinh vi. Địch sử dụng dây thép mảnh căng ngang tầm người, kết hợp với mìn KP2 để tạo thành những bẫy nguy hiểm. Trong các cuộc tuần tra ban đêm, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến chiến sĩ vấp phải dây, kích hoạt mìn nổ. Vì vậy, mỗi tổ tuần tra đều phải trang bị những que dò tự chế để kiểm tra phía trước, hạn chế tối đa rủi ro.
Ông Văn nhớ lại những mất mát nơi biên cương: "Quân địch có nhiều loại vũ khí, chúng sử dụng đa dạng loại mìn với hình dạng khó nhận biết. Ác nhất là kẻ thù tấn công bằng cái mìn bé bằng bao thuốc nhưng lại có sức tấn công lớn, đủ để lính ta cụt chân cụt tay. Chính lúc quân ta hỗn loạn, chúng mới nhảy ra tập kích, gây thêm thương vong cho lực lượng ta".
Trước ranh giới sinh tử, người lính vẫn kiên cường, dũng cảm
Thực tế giữa khói lửa chiến tranh, tinh thần lạc quan của người lính vẫn luôn hiện hữu. Dù bom đạn cận kề, nhiều chiến sĩ vẫn giữ được sự bình tĩnh, tự tin, dần coi đó là điều quen thuộc. Khi màn đêm buông xuống, họ tranh thủ những khoảng lặng hiếm hoi để tụ họp, hát hò, động viên nhau vượt qua áp lực chiến trường.
Trong ngày đầu ra chiến trường, cầm trên tay vũ khí thật, cảm xúc của người lính vừa lạ lẫm vừa hồi hộp. Thế nhưng, sự vô tư của tuổi trẻ dường như lấn át nỗi sợ hãi, họ nhanh chóng thích nghi với thực tế khốc liệt. Và khi ôm súng lên đường tuần tra, mọi lo lắng dần được gạt đi, họ vững vàng bước tiếp trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. “Lúc huấn luyện, binh lính chỉ được phát với tập bằng súng không. Cho đến tận lúc ra chiến trường thật rồi thì mới được chạm vào hộp đạn lần đầu tiên”, ông Văn kể về ấn tượng lần đầu tiên được nhận vũ khí của bản thân.
Thời gian có thể phủ bụi lên nhiều dấu vết của quá khứ, nhưng ký ức về những năm tháng chiến đấu trên chiến trường biên giới Campuchia vẫn còn vang vọng trong tâm thức dân tộc. Khi tiếng súng lắng lại, họ trở về với cuộc sống bình dị, tiếp tục xây dựng đất nước bằng đôi tay và trái tim của mình. Những cống hiến của các anh hùng sẽ mãi được khắc ghi trong những trang sử thiêng liêng và trang trọng.


-1756651692.png)