Từ làm chè 'có gì hái nấy' đến kinh tế trụ cột ở Vạn Phú - Thái Nguyên
(Sóng trẻ) - Xã Vạn Phú (Thái Nguyên) đang "thay da đổi thịt" nhờ những đồi chè. Không còn cách làm manh mún, người dân nơi đây bước vào hành trình làm chè bài bản, nâng chất từng búp lá, gắn với hợp tác thị trường nhằm mở ra hướng phát triển bền vững.
Từ gian khó đến 'trái ngọt'
Xã Vạn Phú nằm nép mình giữa những đồi chè xanh, nơi phần lớn là đồng bào dân tộc Sán Dìu sinh sống. Trước đây, cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào vài sào ruộng và chăn nuôi nhỏ lẻ. Cây chè có mặt từ lâu, nhưng chỉ được trồng theo thói quen, thiếu kỹ thuật, đầu ra bấp bênh nên không mang lại giá trị đáng kể.
Bà Nguyễn Thị Đạt, xã Vạn Phú, Thái Nguyên (65 tuổi), nhớ lại quãng thời gian cách đây vài năm, đời sống bà con còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp và có nhiều hộ nghèo trong xóm. Bước ngoặt chỉ thực sự đến khi mô hình hợp tác xã được hình thành.
Từ năm 2024, Hợp tác xã chè và du lịch sinh thái Vạn Phú ra đời, mở ra cách làm mới. Người dân không còn sản xuất riêng lẻ mà liên kết với nhau, được tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn quy trình trồng và chăm sóc chè theo tiêu chuẩn VietGAP. Những buổi học ngay trên nương chè, những lần cầm tay chỉ việc đã thay đổi dần tư duy sản xuất.
Hiệu quả thấy rõ sau từng vụ. Năng suất chè búp tươi tăng lên 50-70kg mỗi sào, cao hơn trước khoảng rưỡi. Quan trọng hơn, chất lượng chè được nâng lên, giúp giá bán cải thiện đáng kể. Nếu trước kia chè khô chỉ quanh mức 200.000 đồng/kg, thì nay đã đạt 350.000 đến 450.000 đồng/kg.
Từ 23 thành viên ban đầu, hợp tác xã hiện có hơn 50 người tham gia. Cây chè dần trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình. Thu nhập bình quân của lao động đạt 7-8 triệu đồng mỗi tháng, riêng thành viên hợp tác xã có thể đạt 9-10 triệu đồng.
Những con số ấy không chỉ phản ánh kinh tế mà còn là sự đổi thay rõ rệt trong đời sống. Tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm mạnh, từ hơn 40 hộ xuống còn chưa đến 10 hộ. Nhiều gia đình xây được nhà mới, sắm sửa đầy đủ, đường làng được bê tông hóa.
Với nhiều phụ nữ trong xóm, cây chè còn mang lại sự tự tin. Họ tham gia vào các khâu chế biến, bán hàng, kết nối thị trường. Từ chỗ chỉ làm nông nghiệp phụ trợ, họ trở thành những người góp phần trực tiếp tạo thu nhập cho gia đình.
Không dừng lại ở đó, hợp tác xã còn định hướng mở rộng diện tích trồng chè trong những năm tới, tạo thêm việc làm cho lao động trung niên và người lớn tuổi, những nhóm ít cơ hội tiếp cận việc làm tại khu công nghiệp. Đây được xem là cách giữ lao động tại chỗ, phát triển kinh tế ngay trên mảnh đất quê hương.
Khi nghề chè bước vào hành trình 'nâng chất'
Nếu sự ra đời của hợp tác xã làm thay đổi cách tổ chức sản xuất, thì sự chuyển biến trong tư duy làm nghề của người dân lại là bước ngoặt đưa chè Vạn Phú tiếp cận sâu rộng thị trường. Trước kia, việc hái chè chủ yếu dựa vào thói quen. Người dân thường “có gì hái nấy”, từ lá già, lá non đến cả búp và cành, tất cả được gom chung rồi bán theo cân, ít quan tâm đến chất lượng. Khi đó, cây chè chỉ được xem như nguồn thu phụ, không đòi hỏi nhiều sự chăm chút.
Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của thị trường, yêu cầu về chất lượng ngày càng rõ ràng hơn. Người tiêu dùng bắt đầu phân biệt các loại chè, quan tâm đến tiêu chuẩn như “một tôm hai lá”, “chè đinh” hay các dòng chè đặc sản. Những khái niệm vốn xa lạ nay lại trở thành yêu cầu bắt buộc.
Điều đó buộc người làm chè phải thay đổi cách làm. Mỗi lần thu hái không còn là thao tác quen tay mà trở thành quá trình lựa chọn kỹ lưỡng. Búp phải đủ non, lá đúng độ, từng động tác phải nhẹ nhàng để giữ nguyên chất lượng. Thậm chí, có người còn nhai thử ngay tại đồi để cảm nhận vị chè, như một cách kiểm tra tự nhiên. Công việc vì thế trở nên chậm hơn, sản lượng mỗi ngày có thể giảm, nhưng bù lại giá trị lại tăng lên đáng kể. Những búp chè non có thể mang lại giá trị cao gấp nhiều lần so với cách làm trước đây.
Chị Tô Thị Thủy - Chủ tịch Hợp tác xã chè và du lịch sinh thái Vạn Phú cho biết, sự thay đổi không chỉ nằm ở kỹ thuật mà còn ở tư duy sản xuất. “Người trồng chè chúng tôi bắt đầu quan tâm đến thị trường, xác định sản phẩm của mình thuộc phân khúc nào, bán cho ai và làm thế nào để giữ được giá trị. Cũng từ đây nghề chè dần chuyển từ kinh nghiệm sang định hướng theo nhu cầu thị trường”, chị Thuỷ chia sẻ.
Ở một góc độ khác, người trồng chè ngày càng giống những nghệ nhân. Họ không chỉ chăm sóc cây mà còn hiểu cây, biết chọn thời điểm thu hái và cách chế biến để giữ trọn hương vị. Mỗi sản phẩm làm ra không còn đơn thuần là hàng hóa, mà là kết tinh của sự tỉ mỉ và tâm huyết.
Song song với đó, chè Vạn Phú cũng từng bước được quảng bá, giới thiệu tại các điểm du lịch, tiếp cận nhiều khách hàng hơn. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm.
Trong thời gian tới, hợp tác xã định hướng phát triển sản phẩm đạt chuẩn OCOP. Khi có thương hiệu rõ ràng, giá trị của chè không chỉ nằm ở chất lượng mà còn ở câu chuyện về vùng đất và con người phía sau.
Nhìn lại chặng đường đã qua, sự đổi thay của Vạn Phú không đến từ một yếu tố riêng lẻ, mà là sự kết hợp giữa chính sách hỗ trợ, sự liên kết cộng đồng và quá trình tự thay đổi trong mỗi người làm nghề. Từ một cây trồng phụ, cây chè nay dần trở thành hướng đi cho sinh kế bền vững. Quan trọng hơn, chè còn mang lại cho người dân sự chủ động trong sản xuất, giúp họ từng bước làm chủ cuộc sống của mình.
Câu chuyện của Hợp tác xã chè và du lịch sinh thái Vạn Phú là minh chứng cho một hướng đi đúng đắn trong phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với liên kết, hợp tác và hướng tới sự bền vững. Đây cũng chính là con đường giúp người nông dân từng bước thoát nghèo, vươn lên làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương.


-1756651692.png)