Từ nghề làm miến truyền thống đến cơ sở sản xuất hàng tấn mỗi ngày
(Sóng trẻ) - Từ phương thức sản xuất thủ công, cơ sở miến Dương Kiên của gia đình ông Dương Đình Khôi đã từng bước cơ giới hóa, nâng công suất lên hàng tấn mỗi ngày. Dù vậy, mặt bằng phân tán vẫn là trở ngại trong quá trình vận hành và mở rộng sản xuất
Miến dong là nghề truyền thống gắn bó lâu đời với người dân làng So. Theo thông tin công bố tháng 4/2026, toàn xã Hưng Đạo có khoảng 40 hộ tham gia sản xuất miến, với tổng sản lượng bình quân 30 - 40 tạ mỗi ngày.
Ông Nguyễn Đức Phương, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Hưng Đạo, cho biết địa phương định hướng phát triển làng nghề gắn với chuỗi giá trị nông sản, vừa nâng cao giá trị sản phẩm, vừa bảo tồn bản sắc văn hóa của vùng đất ven sông Đáy.
Trong bức tranh chung của làng nghề, Dương Kiên là một trong những cơ sở sản xuất có quy mô lớn. Với bốn thế hệ gắn bó với nghề, gia đình ông Dương Đình Khôi từng bước đầu tư máy móc, cải tiến quy trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất và mở rộng quy mô.
Cơ giới hóa sản xuất, giữ bí quyết làm miến qua nhiều thế hệ
Từ những công đoạn phụ thuộc hoàn toàn vào sức người, cơ sở Dương Kiên từng bước đưa máy móc vào sản xuất để nâng cao năng suất. Một trong những thiết bị được gia đình cải tiến qua nhiều thế hệ là máy quay ren (dụng cụ tạo sợi từ những lá bánh miến đã tráng chín).
Ở thời cụ và cha ông Khôi, máy quay ren vận hành hoàn toàn bằng sức người. Một người đảm nhiệm việc quay máy, người còn lại đưa từng lá bánh vào để tạo sợi. Trong quá trình sử dụng, nhận thấy trục lăn bằng sắt có thể khiến miến xuất hiện mùi kim loại khi nấu, gia đình đã thay bằng trục đồng. Sau đó, máy được lắp thêm mô-tơ để giảm sức quay tay, dù người thợ vẫn phải trực tiếp đưa bánh vào máy.
Qua nhiều lần điều chỉnh, thiết bị dần được cải tiến, giúp giảm thao tác thủ công và nâng cao năng suất ở công đoạn tạo sợi. Đây cũng là một trong những thay đổi quan trọng trong quá trình chuyển từ sản xuất thủ công sang cơ giới hóa của gia đình.
Khi tiếp quản nghề gia đình, ông Khôi tiếp tục thay đổi quy trình sản xuất bằng việc đầu tư máy tráng bánh thay cho phương pháp thủ công. Trước đây, bánh sau khi tráng phải phơi trên các phên, khiến quá trình sản xuất phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Để khắc phục hạn chế này, cơ sở lắp đặt hệ thống sấy dài khoảng 25 m, gồm 15 tầng chạy theo hình sin. Bánh được đưa qua hệ thống để làm khô trước khi chuyển sang công đoạn tạo sợi, giúp cơ sở chủ động hơn trong sản xuất và xử lý lượng nguyên liệu lớn.
Những thay đổi về thiết bị cũng kéo theo sự gia tăng về sản lượng qua từng thế hệ. Nếu ngày xưa, gia đình chỉ sản xuất khoảng 10 - 15 kg miến mỗi ngày, thì đến đời bố ông Khôi, khi máy quay ren được đưa vào sử dụng, sản lượng tăng lên 100 - 150 kg, có thời điểm đạt 200 kg. Hiện nay, cơ sở có thể đạt công suất tối đa khoảng 4 tấn miến thành phẩm mỗi ngày.
Dù máy móc đã tham gia vào nhiều công đoạn, cơ sở vẫn duy trì một số cách làm truyền thống. Điển hình là việc phơi miến thành phẩm dưới ánh nắng tự nhiên khi thời tiết thuận lợi, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống sấy. Ông Khôi chia sẻ: "Ánh nắng giúp sợi miến đanh hơn, giữ được hương thơm của tinh bột và củ dong. Khi trời mưa, chúng tôi mới đưa miến vào kho sấy để bảo đảm tiến độ sản xuất".
Bên cạnh cách phơi, kinh nghiệm lựa chọn nguyên liệu và tạo sợi cũng được gia đình lưu giữ. Theo ông Khôi, cơ sở ưu tiên sử dụng tinh bột dong riềng từ Ba Vì, đồng thời chú trọng kỹ thuật làm sợi để miến có độ dai, không bị trương phồng hay nát khi nấu chín, để nguội rồi đun lại.
Sự kết hợp giữa đầu tư máy móc và duy trì kinh nghiệm làm nghề góp phần tạo nên sản phẩm miến dong Dương Kiên. Sản phẩm được công nhận OCOP 5 sao và được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “Đặc sản miến làng So”.
Sản xuất hàng tấn miến, vẫn loay hoay với mặt bằng
Dù đã đầu tư máy móc và nâng công suất lên hàng tấn mỗi ngày, cơ sở Dương Kiên vẫn chưa thể tập trung toàn bộ hoạt động sản xuất tại một địa điểm. Các công đoạn từ ngâm bột, tráng bánh đến phơi và đóng gói được bố trí ở nhiều khu vực, khiến nguyên liệu và bán thành phẩm phải di chuyển giữa các xưởng.

Không chỉ làm tăng chi phí vận hành, việc bố trí các khu vực sản xuất ở nhiều địa điểm còn gây bất tiện cho người lao động. Bà Nguyễn Bích Hiền (62 tuổi, công nhân bó miến) bộc bạch: "Công việc tại xưởng mang lại thu nhập khoảng 5 - 6 triệu đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, do các khu vực sản xuất nằm cách xa nhau, chúng tôi phải mất thêm thời gian và công sức di chuyển".
Để khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, cơ sở Dương Kiên kỳ vọng sớm chuyển về Cụm công nghiệp làng nghề Tân Hòa. Dự án có diện tích 12,94 ha, được thành lập theo Quyết định số 5699/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội ngày 11/10/2019 do Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Dương làm chủ đầu tư. Khi đi vào hoạt động, cụm công nghiệp dự kiến tập trung các cơ sở sản xuất, đồng thời có hệ thống xử lý nước thải và hạ tầng phòng cháy, chữa cháy.
Tuy nhiên, dự án vẫn gặp vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng. Theo thông tin UBND xã Hưng Đạo công bố ngày 18/12/2025, trong số 161 hộ có đất thu hồi, còn 78 hộ chưa nhận tiền bồi thường tại thời điểm đó. Đến tháng 3/2026, địa phương vẫn tiếp tục làm việc với chủ đầu tư để tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.
Gia đình ông Khôi đã mua đất tại cụm công nghiệp và mong muốn sớm chuyển đến địa điểm mới. Theo ông, việc tập trung sản xuất tại một khu vực sẽ giúp cơ sở thuận tiện hơn trong quản lý, đồng thời đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy, an toàn thực phẩm và xử lý nước thải.
Trải qua bốn thế hệ, gia đình ông Khôi đã nhiều lần thay đổi cách làm để đưa cơ sở miến Dương Kiên phát triển từ quy mô nhỏ lên sản xuất hàng tấn mỗi ngày. Dù máy móc ngày càng giữ vai trò quan trọng, những kinh nghiệm làm nghề vẫn được gia đình duy trì như một phần giá trị của sản phẩm. Giữa yêu cầu mở rộng sản xuất và mong muốn gìn giữ nghề truyền thống, hành trình của Dương Kiên cũng cho thấy nỗ lực tìm cách để nghề cũ tiếp tục tồn tại trong điều kiện mới.


