Nghệ nhân Ưu tú Ngô Thị Thu: Nối nhịp chèo tàu, giữ hồn quê Ô Diên
(Sóng trẻ) - Suốt gần ba thập kỷ, Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) Ngô Thị Thu miệt mài gìn giữ và truyền dạy chèo tàu, loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc của Tổng Gối. Từng câu hát, từng nhịp chèo dưới sự dẫn dắt của bà sống động trên sân khấu lễ hội, kết nối quá khứ với hiện tại và truyền cảm hứng cho các thế hệ trẻ.
Một buổi sáng cuối tuần, tôi tìm về xã Ô Diễn (TP Hà Nội) để khám phá nghệ thuật chèo tàu. Chỉ cần nhắc đến chèo tàu, người dân trong làng đều hồ hởi chỉ dẫn tôi đến Nghệ nhân Ưu tú Ngô Thị Thu. Theo đường làng quanh co, tôi đến nhà bà và ấn tượng bởi không khí rộn ràng tại đây.
Bà Thu đứng giữa sân, tay múa theo nhịp chèo, giọng ngân nga từng câu hát cổ, lúc trầm ấm, lúc rộn ràng, vừa hát, vừa hướng dẫn các em nhỏ từng động tác. Xung quanh bà, khoảng 15 em nhỏ ngồi chăm chú lắng nghe, mắt dõi theo từng cử chỉ, rồi bắt đầu tập theo từng nhịp, từng bước. Tiếng cười nhỏ xen lẫn những câu hát vỡ lòng, các động tác múa vụng về nhưng hào hứng, hòa cùng giọng bà Thu.
Quan sát một lúc, tôi xin phép được gặp gỡ bà Thu để trò chuyện kỹ hơn. Ngồi bên bà, lắng nghe những câu chuyện về nhịp chèo quê hương, tôi mới hiểu vì sao khi nói đến chèo tàu, người dân nơi đây đều nghĩ ngay đến bà Thu.
Di sản quý báu của Ô Diên
Theo NNƯT Ngô Thị Thu, hội hát chèo tàu (hát tàu tượng) là loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc của vùng Tổng Gối xưa (nay là xã Ô Diên, Hà Nội). Những năm đầu thế kỷ 15, khi nhà Minh xâm lược nước ta, vùng đất này được vị tướng là Văn Dĩ Thành dấy quân khởi nghĩa, bảo vệ quê hương. Không chỉ là vị tướng tài ba, ông còn là thầy giáo dạy chữ, thầy thuốc cứu dân khi dịch bệnh hoành hành.
Năm 1416, sau khi tướng Văn Dĩ Thành hy sinh, người dân vùng Tổng Gối xưa đã tôn ông làm Thành hoàng làng và xây dựng Lăng Văn Sơn để thờ tự. Sau đó, cư dân của bốn làng Thượng Hội, Thúy Hội, Vĩnh Kỳ và Phan Long đã sáng tạo ra những làn điệu chèo tàu, vừa ca ngợi công đức của vị tướng, vừa trở thành dấu ấn văn hóa truyền thống của địa phương. Năm 1997, Lăng Văn Sơn được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Trải qua nhiều thế kỷ, đến năm 2025, Lễ hội truyền thống Hội hát chèo tàu Tổng Gối tại xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội (nay là xã Ô Diên, TP Hà Nội) đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
“Theo lệ xưa, hội chèo tàu chỉ tổ chức 25 năm một lần và chỉ diễn ra vào những năm mưa thuận gió hòa. Nếu mất mùa hay đói kém thì hội sẽ không mở. Việc tổ chức một kỳ hội như vậy rất tốn công sức, bởi phải huy động hàng trăm người tham gia, kéo dài suốt bảy ngày, từ rằm đến ngày 21 tháng Giêng. Hơn nữa, nếu một trong bốn làng không đồng thuận thì cũng không thể tiến hành”, NNƯT Ngô Thị Thu chia sẻ.
Men theo dòng ký ức, bà Thu nhớ lại: “Hội chèo tàu được tổ chức lần đầu vào năm 1683. Tuy nhiên, sau đó, do ảnh hưởng của chiến tranh, tư liệu bị thất lạc, số người biết hát ngày càng ít. Năm 1922 là lần cuối cùng kỳ hội này được tổ chức. Chèo tàu đứng trước nguy cơ mai một hoàn toàn”.
Gian nan tìm về vốn cổ quê hương
Sau năm 1992, hội chèo tàu không còn được tổ chức nhưng những giai điệu xưa vẫn len lỏi trong nhịp sống thôn quê, được các bà, các mẹ dùng để ru con ngủ. Cô bé Thu lớn lên giữa những câu hát ấy, sớm nảy lòng say mê những âm điệu đặc trưng của chèo tàu. Khi trưởng thành, ký ức về những hội hát ngày xưa, qua lời kể của các bậc cao niên, trở thành ngọn lửa thôi thúc Thu quyết tâm hồi sinh một di sản gần như đã thất truyền.
“Khác với hát Dô ở Liệp Nghĩa (Quốc Oai, Hà Nội), chèo tàu Ô Diên chưa từng thấm sâu vào đời sống thường nhật của người dân. Do lệ Thánh chỉ mở hội 25 năm một lần, những giai điệu này chủ yếu còn trong ký ức của những người từng tham gia, hiếm khi được truyền dạy rộng rãi. Vì thế, ban đầu, hành trình phục hồi gặp nhiều khó khăn”, bà Thu nhớ lại.
Để phục dựng chèo tàu, bà Thu đã phải tìm đến từng cụ cao niên từng biết đến hội hát xưa. Hầu hết những người từng đảm nhiệm vai chính như: Quản tượng, Chúa tàu hay Cái tàu đã qua đời, chỉ còn một số ít từng đóng vai phụ hoặc nghe lỏm nên nhớ được đôi câu. “Mỗi cụ chỉ lưu giữ được những mảnh ký ức rời rạc, trong khi chèo tàu gồm 3 loại: Hát trình (dâng Thánh), hát trạo (khi chèo thuyền) và hát giao duyên, mỗi loại có cách diễn và nhịp điệu riêng. Khi ấy, việc khôi phục tưởng chừng bất khả thi nhưng tôi vẫn luôn cố gắng để gìn giữ di sản quê hương”, bà Thu cho biết.
May mắn, bà Thu không đơn độc trong hành trình ấy. Những người đồng hành như: Bà Nguyễn Thị Tuyết, ông Nguyễn Hữu Yến, ông Đông Sinh Nhật, ông Nguyễn Văn Viết,... đã cùng bà kiên nhẫn thu thập từng mảnh tư liệu, nối những câu hát rời rạc để hồi sinh một di sản đang đứng trước nguy cơ mai một.
Năm 1998, sau nhiều nỗ lực của bà Thu cùng các cao niên trong làng, Câu lạc bộ chèo tàu Tân Hội được thành lập, đánh dấu bước đầu phục hồi một di sản văn hóa gần như thất truyền. Tuy nhiên, hội hát đã bị gián đoạn quá lâu, nên CLB chủ yếu là người cao tuổi tham gia, nhiều người trẻ chưa dám thử sức. Không nản lòng, bà Thu đi từng ngõ, đến từng nhà, kể cho trẻ nhỏ nghe về những giai điệu cổ và ý nghĩa của chèo tàu với quê hương. Dần dần, qua từng câu hát, từng nhịp chèo, những em bé háo hức bắt chước, phụ huynh cũng yên tâm, và những âm thanh cổ xưa lại vang lên trong các buổi chiều thôn quê, đưa chèo tàu trở về nhịp sống vốn có của Ô Diên.
Bồi đắp sức sống mới cho di sản cổ
Hiện nay, CLB chèo tàu Tân Hội có hơn 50 thành viên, trong đó có 20 em nhỏ, từ 13 đến 18 tuổi, tham gia sinh hoạt thường xuyên. Cùng với các thành viên trong CLB, bà Thu đã đưa chèo tàu vươn ra nhiều tỉnh khác trên cả nước như: Ninh Bình, Phú Thọ, Nghệ An,...
“Năm 2015, lễ hội chèo tàu Tân Hội (nay là lễ hội chèo tàu Ô Diên) chính thức được khôi phục và tổ chức với quy mô lớn tại địa phương. Đây là cột mốc mà tôi và các thành viên CLB chờ đợi suốt nhiều năm. Nhìn tiếng hát chèo tàu vang lên trong sân đình vào ngày lễ hội, tôi thực sự cảm thấy tự hào về những nỗ lực bền bỉ của cả nhóm”, bà Thu hào hứng. Từ đây, thay vì chờ đợi 25 năm như trước, lễ hội được tổ chức định kỳ 5 năm/lần, để giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất này được lan tỏa rộng rãi hơn đến cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ.
Nghệ nhân dân gian Nguyễn Văn Viết, thành viên trong Ban chủ nhiệm CLB CLB chèo tàu Tân Hội, cho biết: “Chèo tàu không chỉ là một loại hình diễn xướng dân gian độc đáo, mà còn là sợi dây kết nối ký ức, tâm hồn của người dân Ô Diên qua nhiều thế hệ. Trong hành trình gìn giữ và khôi phục di sản này, bà Thu đã dành hết tâm huyết, kiên trì để truyền cảm hứng cho cộng đồng. Tôi và các thành viên trong CLB luôn quyết tâm sẽ phát huy giá trị chèo tàu, tiếp nối truyền thống để tiếng hát ấy mãi vang vọng”.
Theo thông tin từ UBND huyện Đan Phượng (nay là xã Ô Diên, TP Hà Nội), trong năm 2025, huyện sẽ tổ chức lớp truyền dạy chèo tàu theo kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của Thành phố. Lớp học diễn ra từ tháng 3 đến tháng 12, do NNƯT Ngô Thị Thu cùng các nghệ nhân khác giảng dạy, với quy mô 40 học viên mỗi buổi.
“Tôi muốn truyền dạy cho tất cả những ai yêu thích, bất kể tuổi tác hay xuất thân, để các giai điệu cổ này không bị mai một. Với các cháu nhỏ, tôi luôn dành thời gian giải thích từng câu hát, từng vai diễn, để các cháu hiểu được giá trị và tinh thần của chèo tàu. Chỉ khi hiểu và cảm nhận, các cháu mới gắn bó lâu dài, và tiếng hát của chúng ta sẽ còn vang vọng mãi với thế hệ mai sau”, bà Thu bộc bạch.
Gần 30 năm gắn bó với chèo tàu, bà Thu không chỉ hồi sinh một loại hình nghệ thuật tưởng chừng thất truyền, mà còn truyền lửa đam mê cho thế hệ trẻ, giúp di sản văn hóa của Ô Diên đứng vững trong nhịp sống hiện đại. Từ những buổi luyện tập trong sân đình, đến lễ hội được tổ chức định kỳ và các lớp học miễn phí, từng câu hát, từng nhịp chèo giờ đã trở thành nhịp sống chung của cộng đồng. Với tâm huyết không mỏi mệt và lòng kiên trì bền bỉ, bà Thu đã chứng minh rằng, những giá trị văn hóa truyền thống sẽ luôn sống nếu được trao truyền bằng cả trái tim. Chèo tàu, qua bàn tay và tấm lòng của bà, không chỉ là nghệ thuật, mà còn là cầu nối giữa ký ức, hiện tại và tương lai của Ô Diên.

-1756651692.png)
-1756652900.png)