Sức khỏe tâm lý của học sinh trước áp lực học tập, thi cử
(Sóng trẻ) - Học sinh cuối cấp chịu nhiều áp lực học tập. Khi vượt ngưỡng, điều này dễ gây mất cân bằng tâm lý, ảnh hưởng sức khỏe tinh thần, nhất là mùa thi.
Hiện nay, tình trạng trẻ vị thành niên ở độ tuổi học sinh gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần như stress, lo âu, trầm cảm, tự tử đang trở nên phổ biến.
Tại Hội thảo góp ý Đề án tăng cường năng lực hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần giai đoạn 2023-2030, bác sĩ Nguyễn Huy Du, Quyền Trưởng chương trình “Vì sự sống còn, phát triển trẻ em và môi trường” (UNICEF) cho hay, tại Việt Nam, kết quả khảo sát sức khỏe tâm thần vị thành niên quốc gia năm 2022 (trẻ từ 10 -17 tuổi) cung cấp những con số đáng chú ý. Cụ thể, 21,7% trẻ vị thành niên cho biết có vấn đề về sức khỏe tâm thần; 3,3% trong đó đáp ứng các tiêu chí về rối loạn tâm thần. Vấn đề rối loạn lo âu phổ biến nhất với 18,6% và trầm cảm chiếm 4,3%. Ở nhóm trẻ em và vị thành niên, tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần chung là 8% đến 29%. Tỷ lệ số ca tự tử trên tổng số ca tử vong ở trẻ vị thành viên là 2,3%.
Còn theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có khoảng 50% trẻ ở độ tuổi vị thành niên có vấn đề về sức khỏe tâm thần; trầm cảm, lo âu, rối loạn tâm thần, tăng 3-5 lần so với bình thường… Những con số đáng chú ý cho thấy sự nghiêm trọng của việc chưa quan tâm đúng mức đến chăm sóc sức khỏe tâm thần học đường và điều này cần phải thực hiện ngay, không thể trì hoãn.
Các loại hình vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất trong trẻ em Việt Nam là các vấn đề hướng nội (lo âu, trầm cảm, cô đơn) và các vấn đề hướng ngoại (tăng động và giảm chú ý).
Áp lực học tập - Nguyên nhân hàng đầu dẫn tới rối loạn tâm lý
Trong một nghiên cứu năm 2019-2020 tại Bệnh viện Nhi Trung ương với đối tượng là học sinh từ 10-19 tuổi cho thấy: 55,6% số trẻ có sang chấn tâm lý (áp lực học tập 20%, áp lực gia đình 20,5%, quan hệ bạn trong trường 8,9%). Và kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: Stress và trầm cảm gặp nhiều nhất ở lứa tuổi 14 và 17, là thời điểm các em học sinh thi chuyển cấp lên trung học phổ thông và đại học. Điều đáng chú ý là stress gặp nhiều hơn ở những học sinh có học lực khá, giỏi.
Em N.Đ.M (Học sinh lớp 9 tại Hà Nội) đang gấp rút ôn thi chuẩn bị cho kỳ thi vào 10 sắp tới vào cuối tháng 5. “Lịch học của em gần như kéo dài suốt cả ngày, ngay cả buổi đêm em cũng phải tự ôn tập lại nên nhiều hôm gần như không ngủ. Điều này kéo dài khiến em cảm thấy rất mệt mỏi. Tuy nhiên vì mong muốn có kết quả thi tốt, em sẽ cố gắng hết sức”, N.Đ.M chia sẻ.
Sau mỗi lần thi khảo sát, kết quả nếu không được như ý, N.Đ.M lại rơi vào trạng thái áp lực. Em nghĩ mình chưa đủ cố gắng, sợ rằng nếu trượt cấp 3 sẽ khiến gia đình thất vọng. Và sau mỗi lần như thế, N.Đ.M lại càng mệt mỏi, thiếu sức sống, ăn không ngon miệng. Thậm chí có những lúc em trở nên khép mình, không muốn nói chuyện với ai. Đối diện với sự khác lạ của con, chị M.P (phụ huynh em Đ.M) đã đưa con tới bệnh viện để kiểm tra tình hình sức khỏe tâm lý. Sau quá trình thăm khám, em Đ.M được chẩn đoán rối loạn lo âu. Chị M.P chia sẻ: “Gia đình cũng đôi lúc gây nên áp lực vô hình lên con, đặt lên bàn cân so sánh con với bạn bè. Điều này cũng gây nên bóng ma tâm lý cho con, khiến con cảm thấy stress mỗi khi chuẩn bị đến kỳ khảo sát”.
Theo ThS Lê Thế Hanh (Chuyên gia tham vấn tâm lý và trị liệu tâm lý, chuyên khoa Tâm lý học Lâm sàng), stress thường diễn biến rất âm thầm, phụ huynh cần để ý những biểu hiện sau: Đầu tiên là hành vi tự hủy hoại bản thân (các vết cứa ở cẳng tay hoặc đùi, cắn móng tay, bấm vào đầu ngón tay..). Việc tự làm đau bản thân này là cách để giải tỏa sự bấn loạn trong cảm xúc bản thân của trẻ. Ngoài ra, trẻ có những hành vi bất thường, trái ngược với tính cách trước kia như trẻ trở nên hung hăng, chống đối hoặc tuân thủ quá mức, có sự rối loạn trong hành vi ăn uống như ăn quá ít hoặc quá nhiều, bị rối loạn giấc ngủ như ngủ quá nhiều hoặc quá ít, buồn chán, giảm kết nối với xã hội... Hoặc có dạng stress cơ năng như trẻ bị đau bụng, đau đầu, đau dạ dày, xuất huyết tiêu hóa... Những cơn đau này thường xuất hiện khi trẻ chuẩn bị bước vào kỳ thi hoặc trước sự kiện quan trọng. Khi sự kiện qua đi thì các cơn đau này giảm triệu chứng.
Điều này cho thấy các áp lực từ việc học tập, áp lực từ gia đình, áp lực thành tích là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng stress ở lứa tuổi học đường. Qua khai thác bệnh sử, phần lớn các em học sinh bị stress mãn tính, quá trình stress đã âm thầm diễn biến từ khoảng 3 - 5 năm trước và áp lực thi cử chỉ là “giọt nước tràn ly”. Diễn biến tâm lý, sự thay đổi tính cách của học sinh trùng với lứa tuổi dậy thì nên nhiều bậc cha mẹ mặc nhiên chấp nhận sự thay đổi đó. Chỉ đến khi trẻ có những hành vi làm tổn thương bản thân hoặc quá bất thường thì bố mẹ mới nhận diện và đưa trẻ đến viện thì thường trẻ đã ở giai đoạn trầm cảm, stress nặng.
Thực tế đó cho thấy vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT) trong thanh thiếu niên Việt Nam đang trở nên đáng báo động. Sự thiếu hụt về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em cũng như nguồn nhân lực về bác sĩ tâm thần, chuyên gia tâm lý là một trong những nguyên nhân các trẻ vị thành niên khó nhận được sự trợ giúp kịp thời, dẫn đến các ca rối loạn lo âu, trầm cảm, tự sát ở lứa tuổi học sinh ngày càng gia tăng. Vì thế, việc quan tâm đúng mức đến công tác chăm sóc SKTT học đường cần phải được thực hiện nghiêm túc và không thể trì hoãn.
Giải pháp tinh thần
Đối với gia đình, ThS Lê Thế Hanh cho rằng: “Cha mẹ cần tránh tạo áp lực cho con cái, dành thời gian tâm sự và làm bạn với con. Đặc biệt là trong thời gian ôn thi vất vả, bố mẹ nên xếp lịch học sao cho khoa học, tôn trọng thời gian giải trí của con”. Gia đình luôn là điểm tựa tinh thần vững vàng cho con, nhưng cũng đồng thời trở thành con dao hai lưỡi nếu như giáo dục sai cách.
Không chỉ gia đình, vị trí việc làm tâm lý học đường (cán bộ chuyên trách) trong trường học là rất cần thiết. Bởi lẽ, nhân sự được đào tạo bài bản sẽ có đủ kiến thức chuyên môn để hỗ trợ học sinh; chuyên tâm với công việc để phát hiện và hỗ trợ kịp thời các em có nhu cầu, đồng thời họ cũng triển khai các chương trình phòng ngừa, xây dựng mạng lưới hỗ trợ, kết nối các bên liên quan nhằm hỗ trợ tốt nhất cho trẻ.
Trước vấn đề cấp thiết của công tác tư vấn học đường, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư 20/2023/TT-BGDĐT hướng dẫn về vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp, định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông. Theo đó, mỗi trường học, từ cấp tiểu học đến THPT được bố trí 1 người vào vị trí việc làm tư vấn học sinh. Trường hợp không bố trí được biên chế thì ký hợp đồng lao động hoặc bố trí giáo viên kiêm nhiệm.
Trong bối cảnh các vấn đề tâm lý học sinh ngày càng phức tạp, tác động xã hội đến môi trường học ngày càng lớn, hàng loạt vụ bạo lực học đường diễn ra trên cả nước gây bức xúc trong dư luận, vấn đề cần có nhân viên tư vấn học sinh càng được đặt ra bức thiết hơn. Vì vậy, việc Bộ GD&ĐT chính thức đưa nhân viên tư vấn học sinh vào danh sách vị trí việc làm được kỳ vọng sẽ giúp các em có kênh hỗ trợ tâm lý, giảm bớt các vấn đề tiêu cực trong trường học. Đây cũng là lần đầu tiên các trường công lập của Việt Nam có nhân viên tư vấn tâm lý cho học sinh.


-1756651692.png)