Dựng lại di tích trong không gian ảo: Đẹp thôi chưa đủ
(Sóng trẻ) - Công nghệ thực tế ảo (VR) mở ra hướng đi mới giúp tái hiện kiến trúc cổ. Nhưng để công nghệ thực sự đồng hành cùng di sản, yếu tố quan trọng nhất không chỉ là hình ảnh đẹp mà là tính xác thực của dữ liệu.
Những ngày đầu năm mới 2026, du khách đến Hoàng thành Thăng Long được đeo kính thực tế ảo (VR) để nhìn lại những di vật đã vỡ hỏng, thậm chí những hoa văn không còn nguyên vẹn. Triển lãm do Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với UBND thành phố Hà Nội tổ chức, được du khách đón nhận nhiệt tình.

“Nhờ công nghệ VR, du khách có thể thấy rõ diện mạo, hình dáng của các di vật, công trình từ thế kỷ 11 hoặc lâu hơn nữa”, bà Mạc Thị Thu Hà, cán bộ Phòng Hướng dẫn thuyết minh, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội chia sẻ.
Đứng trước những nền móng hay các lớp dấu tích nằm dưới mặt đất, người tham quan thường khó hình dung nơi đây từng là một quần thể cung điện uy nghi. Bảo tồn đòi hỏi giữ nguyên hiện trạng, trong khi công chúng muốn được thấy cái đã mất.
VR được kỳ vọng gỡ thế giằng co ấy. Từ dữ liệu số hóa, tư liệu lịch sử và kết quả nghiên cứu, công nghệ này dựng nên môi trường ba chiều tái hiện di vật, không gian kiến trúc đã biến đổi, còn di tích thật vẫn nằm yên ở nguyên trạng. Tuy nhiên, triển lãm đầu năm 2026 cũng là lần duy nhất VR xuất hiện tại Hoàng thành Thăng Long, trước đó, nơi này từng dùng 3D Mapping và một số hình thức trình chiếu khác.
Không chỉ riêng Hoàng thành Thăng Long, việc ứng dụng VR ở các di tích Hà Nội nhìn chung còn sơ khai. Chi phí đầu tư và vận hành cao, công nghệ chưa tương thích nhiều với đặc thù từng di tích, cơ sở vật chất chưa đồng bộ và đội ngũ được đào tạo bài bản còn thiếu là những lực cản bà Hà chỉ ra.
Nhìn từ phía công nghệ, anh Nguyễn Tuấn Phương - Công ty TNHH Công nghệ Holomia, nhận xét thận trọng hơn: “Ứng dụng VR tại các di tích Hà Nội bước đầu đã tạo được hiệu ứng thu hút, nhưng chủ yếu dừng ở mức ‘trình diễn’ ngắn hạn hơn là một hệ sinh thái trải nghiệm sâu sắc”.
Nhưng dựng lại thì dựng theo cái gì và ai chịu trách nhiệm về những gì người xem nhìn thấy? Không gian ảo thường liền mạch và đẹp mắt. Khi mái ngói, cột kèo, bậc thềm đều được dựng sống động như nhau, người xem có thể khó nhận ra đâu là bằng chứng khảo cổ, đâu là suy luận của người làm sản phẩm.
Vì thế, TS. Lý Viết Trường (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội) đề nghị phân biệt ba cấp độ thông tin ngay trong sản phẩm. Với một công trình đã mất, phần nền móng còn lại là dữ liệu xác thực. Phần hình khối dựng từ hồ sơ, khảo cổ và các công trình đồng đại là phục dựng có căn cứ. Còn màu sơn, trang trí hay hoạt cảnh sinh hoạt, nếu chưa có tư liệu trực tiếp, cần ghi rõ là giả định minh họa.
Để việc phân biệt ấy kiểm chứng được, sản phẩm cần có hồ sơ đi kèm: nguồn tư liệu, kịch bản, biên bản thẩm định, quyết định phục dựng. Giới chuyên môn gọi dữ liệu về mức độ chắc chắn của từng phần dựng là paradata, theo tinh thần Hiến chương London về trực quan hóa di sản văn hóa bằng máy tính.
Để VR đi xa hơn một cuộc “trình diễn”, những người trong cuộc đề xuất nhiều hướng. Bà Hà nhấn mạnh đào tạo nhân lực chuyên trách và hoàn thiện cơ sở vật chất. Anh Phương nói đến chuẩn hóa dữ liệu số hóa, bố trí ngân sách bảo trì tách khỏi vốn đầu tư ban đầu, và phát triển thêm phiên bản WebVR hoặc thực tế tăng cường (AR) để du khách quét mã QR bằng điện thoại, bớt phụ thuộc vào kính chuyên dụng.
Cuối cùng, VR không thể và không nên thay thế di tích thật. TS. Lý Viết Trường nhấn mạnh đây chỉ là công cụ bổ trợ, bởi cảm nhận về vật liệu, tỷ lệ, âm thanh, không khí và sự hiện diện của di tích thật không thể thay thế hoàn toàn bằng công nghệ. Một sản phẩm VR thành công ở di tích, vì thế, không phải là sản phẩm khiến người xem ở lại trong thế giới ảo, mà là sản phẩm đưa họ trở về với mảnh đất thật bằng con mắt hiểu biết hơn.


